ABOUT THE THREE BLOOMS OF NARCISSUS ba nu. thuy? tie^n...


In her private world -- the world of a self-taught artist, the three blooms of narcissus reminded her of three Vietnamese school girls before 1975, sweet and innocent. All in pastel colors, like that touch of nostalgia...Trong thế giới riêng tư của cô — thế giới tự học, có ba đóa tiểu thủy tiên (narcissus). Đây là loài hoa tôi rất ưa thích vì cái mộc mạc dịu dàng và nhỏ bé của nó. Ba bông thủy tiên này...Những bông hoa thanh tao bé nhỏ này làm cô nhớ đến hình ảnh ba nữ sinh Việt Nam quấn quýt bên nhau trước 1975. Màu trắng tinh khiết ẩn chút xanh xanh mơ màng hắt lên từ lá, nhụy hoa màu vàng anh tươi mà nhã, xen giữa những cọng lá dài và xanh — có cọng vươn thẳng đầy nhựa sống, có cọng ẻo lả nghich ngợm. Tất cả là màu sắc mềm của phấn tiên...

Friday, February 8, 2013

A FEW REMARKS ON "POSTCARDS FROM NAM" -- Vài Cảm Nghĩ…về “Bưu Thiếp của Nam”

LITERARY CRITIQUE Phê bình và phân tích văn chương
Tran Van Tong 
November 1, 2010 Bình Luận

Ve^` mo^.t cuo^'n tie^?u thuye^'t nga('n no'i ve^` Thuye^`n Nha^n Vie^.t Nam:
TRI'CH:  "...[N]hà bác học Pierre-Gilles de Gennes, khi ông đoạt giải thưởng Nobel về Vật Lý, năm 1991:   Khi được hỏi mẫu người anh hùng của thế kỷ thứ 20 của ông là ai? Tướng de Gaulle, Gandhi, hay Mandela v.v, ông đã trả lời không chút do dự: Thuyền Nhân Việt Nam. Ông đã nói đến Thuyền Nhân với cái lễ độ tuyệt vời của một con ngưòi văn minh nhân ái. Không phải lễ độ hình thức của những câu nói rườm rà, cũng không phải lễ độ của trí năng qua những phân tích uyên bác, mà chính là cái lễ độ cao cả nhất: lễ độ của tâm can."
"
Đọc qua “Bưu thiếp của Nam”, tôi không thể không liên tưởng đến Marcel Proust, đại văn hào Pháp của đầu thế kỷ 20. Trong “A la recherche du temps perdu” (Đi tìm thời gian đánh mất), Proust triển khai chủ đề về mối liên hệ tương giao kỳ diệu giữa giác quan, ký ức và những nguồn cảm xúc thầm kín tàng ẩn trong mỗi con người.
Dĩ nhiên, hai tác phẩm không cùng một trọng lượng, không cùng một tầm vóc:  một bên là một trường thiên tiểu thuyết dàn dựng xã hội thượng lưu Tây Phương kiêu sa với tâm lý nhân vật rất tế nhị và sâu sắc; một bên là một tiểu thuyết ngắn, tả những mảnh đời trong xã hội Việt Nam ở buổi giao thời, bị nhào nặn bởi cơn lốc của một giai đoạn lịch sử thảm khốc. Tuy nhiên, cả hai đều là một tượng đài của thời gian được cấu trúc trên một ý thức bén nhạy về sự vĩnh cửu và huyền năng của nghệ thuật.
Những điểm tương đồng và những nét tương phản giữa hai tác phẩm thể hiện rất sinh động tính phổ quát của một số tình cảm cùng động cơ tâm lý của con người và, ở một  mặt khác, tác động đặc thù của các nhân tố lịch sử, xã hội, văn hóa trên quá trình sáng tạo của một tác giả.
Đi Tìm Thời Gian Đánh Mất” đưọc cấu trúc trên giai thoại “chiếc bánh madeleine”, một giai thoại đã trở thành một huyền sử văn chương: vào một buổi chiều đông rét mướt, bị nhuốm lạnh, Proust, nghe lời mẹ, phá lệ, hớp một muỗng nước trà hòa với những mảnh vụn của một chiếc bánh “madeleine” (một loại bánh bông lan), để sưởi ấm người. Khi khứu giác cảm nhận ra hương vị của chiếc bánh mà mình thường thưởng thức thuở ấu thời, thì bất thần ký ức và các nguồn xúc cảm thầm kín chuyển động, đột phá thời gian, dần dần mang trở về thế giới huyền ảo của thời thơ ấu, cái thế giới thượng lưu xa hoa, hào nhoáng đầy đình đám của xã hội Pháp vào cuối thế kỷ 19, với những thiếu nữ rực rỡ như những đóa hoa nở rộ và những mối tình trưởng giả được bao che. Và đó là bước khởi hành đưa Proust đi trên con đường thiên lý, «tìm  thời gian đánh mất,» làm sống lại quá khứ trong một hiện tại riêng tư, được nhà văn cấu tạo lại muôn phần sinh động, phong phú và nồng nàn hơn cái thế giới hiện thực của thời xa xưa…Hành trình đó, sau cùng, đã giúp Proust tìm ra bí quyết – nằm trong huyền năng sáng tạo của nghệ thuật – để khắc phục sức tàn phá của thời gian, vượt ra ngoài vòng tử  sinh của tạo hóa.
Quá khứ trong “Đi Tìm Thời Gian Đánh Mất,” như Proust đã viết ra, “là một linh hồn sinh động, nằm trong nội tâm, luôn tưởng nhớ, ao ước, chờ đợi …” được xúc tác bởi một giác quan đặc biệt nhạy cảm với ngoại cảnh (ở đây khứu giác qua hương vị của chiếc bánh) để trổi dậy hồi sinh.
Quá khứ trong “Bưu Thiếp Của Nam” trú mình trong đáy sâu của tiềm thức, sau những bức tường thành tâm lý kiên cố. Qua thị giác, những tấm bưu thiếp lần lượt luồn qua những phòng tuyến đó, để đánh động ký ức, đưa chúng ta đi từ cái xã hội phồn vinh đầy tiện nghi của thủ đô nước Mỹ, trở về với thời thơ ấu của nhân vật Mimi, ở một ngõ hẻm Sàigòn, trong giai đoạn chiến tranh sắp kết thúc – một giai đoạn lịch sử đen tối và đẫm máu.
Và từ cái thế giới của một cuộc tình trẻ thơ rất đẹp, hiện ra chập chờn hình bóng của những trại cải tạo, những làn sóng người vượt biên thảm khốc, những trại tỵ nạn bần cùng của hậu bán thập niên 70 và 80, trong đó con người phải tận dụng bản năng man rợ trong cảnh khốn cùng nhất để sinh tồn. Trong nghịch cảnh đó, tác giả đã phục hồi cho chúng ta những nguồn cảm xúc thơ ngây, trong trắng, phục sinh lại cuộc sống và tình người, đồng thời phác họa ra chân dung cái đẹp ở trần thế.
Cái đẹp hiển lộ ở đây, không phải là cái đẹp xa xỉ phẩm dành riêng cho một giai cấp biệt đãi của xã hội, cũng không phải cái đẹp sản sinh bởi một thứ nghệ thuật vị nghệ thuật hoàn toàn giả tạo, cầu kỳ, trừu tượng của một xã hội phù phiếm. Cái đẹp ở đây chính là  cái sinh khí và sinh lực mà nhà thơ Pháp René Char đã đề cao trong câu thơ được viết ra giữa cơn lốc của cuộc kháng chiến gian truân chống chế độ bạo tàn Đức Quốc Xã trong đệ nhị thế chiến: “Trong đêm tăm tối của chúng tôi, không chỉ có một chỗ được dành cho cái đẹp, tất cả chỗ chúng tôi có, đều được dành cho cái đẹp” (“Dans nos ténèbres il n’y a pas une place pour la beauté, toute la place est pour la beauté”, René Char, Les feuillets d’hypnos, 237). Cái đẹp ở đây không tùng phục một chủ nghĩa, hay một ý hệ hoặc một đảng phái nào. Nó chỉ phụng sự cho con người, cho tự do, cho sự khổ đau của con người.
Bài học nghiệt ngã mà ta phải rút ra từ cái đẹp trong “Bưu Thiếp Của Nam” không phải là bài học về tác phong anh hùng, đúng, sai, xấu, tốt,  mà là bài học về tình người và về nguồn mạch tinh thần của một tập thể.  Hiểu như thế, cái đẹp không hề áp đảo một ai, nhưng trái lại, trong suốt chiều dài của lịch sử nhân loại, trong từng ngày, ở từng giây phút, nó đã an ủi và nâng đỡ hàng triệu người bị dìm trong tai biến, và có thể nó đã giải thoát vĩnh viễn một số cá nhân …Sự cao cả của nghệ thuật nằm ở chỗ đó, trong sự phân xẻ triền miên giữa cái đẹp và sự khổ đau, giữa cơn sốt sáng tạo cô đơn và tình liên đới với một tập thể, giữa hai bờ vực thẳm của phù phiếm và tuyên truyền. Người nghệ sĩ phải luôn tiến đi trên con đường cheo leo đó.  Mỗi bước đi là một cuộc phiêu lưu, một sự mạo hiểm tột cùng. Nhưng, tất cả tự do của nghệ thuật nằm trọn trong bước đi đầy rủi ro đó. Và chỉ trong bước đi đó mà thôi.
Vì thế, nghệ thuật không thể chỉ là nơi trú ẩn lánh đời tiêu cực của một cá nhân. Sáng tạo của nghệ thuật luôn luôn là một dâng hiến cho tương lai. Hiểu như thế, ý niệm “refuge of art” (“nơi trú ẩn của nghệ thuật”) mà tác giả viện dẫn từ nhà văn Nabokov, là sự thăng hoa, một tia chớp đưa con người từ hoàn cảnh bần cùng lên đỉnh cao của ánh sáng. Và nếu trong dòng chảy của lịch sử, kiếp nhân sinh quả thật chỉ mong manh như một tia chớp, thì nơi “trú ẩn của nghệ thuật,” trong “Bưu Thiếp Của Nam,” thể hiện một cách sinh động câu nói của nhà thơ René Char: “Nếu ta vào cư trú trong một tia chớp, nó sẽ trở thành trung tâm của sự vĩnh cửu” (“si nous habitons un éclair, il est le coeur de l’éternel”).
VỀ BỐI CẢNH THUYỀN NHÂN
Ngoài những thích thú về mặt văn chương, khi đọc qua «Bưu Thiếp của Nam,» tôi có nhiều cảm xúc và không ít suy tư.
Thảm trạng thuyền nhân Việt Nam vào cuối thế kỷ 20, được dùng làm thảm dệt cho tác phẩm, đối với tôi, nói theo Hoàng Cầm trong bài Bên Kia Sông Đuống, thuộc về «những chuyện muôn đời không nói năng.»
Nói thế nào về những thảm họa và những điều bất hạnh mà chính mình không hề chia xẻ hay ít ra không chắc cảm nhận được một cách trọn vẹn? Thế nhưng, lòng tôn kính đối với các nạn nhân đòi hỏi chúng ta phải cố nói lên sự thật mà chúng ta biết được về nguồn gốc của thảm họa nầy.
Thuyền nhân Việt Nam là hình thái tiêu biểu và thảm thiết của hiện tượng di dân và tỵ nạn ở thế kỷ 20. Nghĩ cho cùng, thảm trạng này là hệ quả tối hậu của sự chuyển hoán trong tư tưởng Tây phương, xảy ra cách đây hơn 300 năm.
Từ thế kỷ thứ 6 trước Dương lịch đến giữa thế kỷ thứ 17, tư tưởng Tây Phương theo đuổi 2 mục tiêu: đạo làm người và khám phá quy luật vận hành của tạo hóa. Từ giữa thế kỷ thứ 17 trở đi, sứ mạng khám phá quy luật tạo hoá bị Khoa Học hiện đại chiếm lĩnh, còn đạo làm người với mục tiêu truy tìm ý nghĩa của cuộc sống, theo đuổi hạnh phúc cá nhân, thiết lập công lý và trau dồi đức hạnh, cũng bị sao lãng và đưọc chuyển nhượng lại cho tôn giáo. Triết học chỉ còn nghiên cứu lãnh vực Siêu hình.  Đến thế kỷ thứ 18, đạo làm người lại di chuyển sang sân chơi gọi là chính trị:  mục tiêu Hạnh Phúc và Công Lý được theo đuổi qua thuật tổ chức một xã hội công bằng nhằm đem hạnh phúc cho mỗi thành viên qua quá trình thiết lập một nền công lý tập thể. Cả ngành đạo lý của Triết học từ đó được sáp nhập vào những hệ chính trị lớn. Và đấy là nguồn gốc sản sinh ra, trước nhất, các cuộc cách mạng xã hội, văn hóa, chính trị kế tiếp, kế đến những ý hệ hoang tưởng lớn của thế kỷ thứ 19, đưa đến sau cùng việc hình thành chủ nghĩa chuyên chế toàn trị ở Âu châu vào đầu thế kỷ thứ 20 mà phát xít và cộng sản là hai hình thể chính.
Hiển nhiên, quá trình cấu tạo ra nguyên nhân của thảm họa di dân và tỵ nạn của thế kỷ 20, đặc biệt của Thuyền Nhân Việt Nam, có những cội rễ ăn sâu trong lịch sử của tư tưởng Tây Phương. Trước Marx và Lénine đã có những tác giả lớn đề xướng ra ý hệ hoang tưởng như Plato trong «Republic» (Cộng Hòa) ở thời Cổ Đại Hy Lạp, Thomas More trong «Utopia» (Hoang Tưởng) ở thế kỷ thứ 16, Tomasso Campanella trong «La Cité Du Soleil» (Đô Thị Của Mặt Trời) ở thế kỷ thứ 17, Charles Fourier trong một số tác phẩm ở thế kỷ thứ 19. Tất cả đều thảo ra một chương trình nhằm thiết lập một xã hội gọi là công bằng nhưng kỳ thực tột cùng chuyên chế.
Nói tóm lại, trong hơn 3 thế kỷ vừa qua, tư tưởng Tây phương đã không ngừng xa lánh con người để dồn nỗ lực cấu trúc ra những hệ chính trị lớn với hậu quả vô cùng tai hại cho nhân loại.
Ở mức độ rất khiêm tốn, «Bưu Thiếp của Nam» mở ra một hành trình đảo ngược, mang ta trở về trọng tâm của con người khi triển khai những đề tài như: ký ức, tình người, cái đẹp ở trần thế, nguồn mạch tinh thần của một tập thể. 
Do đó, ta phải tôn trọng những nỗ lực sáng tác và phổ biến một tác phẩm như «Bưu Thiếp Của Nam,»  trong những điều kiện khó khăn.  Nghịch cảnh xã hội và điều kiện cá nhân khắt khe thường tác động như một chất men kích thích trên các nhà sáng tạo, và xa hơn nữa, trên tất cả những ai cưu mang một số giá trị tinh thần. Như trường hợp của Pasternak hay Soljenitsine trong thời kỳ cận đại, hay Hàn Mạc Tử, hoặc Mozart (chết trong bần cùng, thân thể bị vùi trong mồ tập thể) và Beethoven (điếc ở tuổi 30, điều khiển dàn nhạc đại hòa tấu mà không nghe được âm thanh) ở thế kỷ 18, v.v.
Nan đề mà người nghệ sĩ hay nhà tranh đấu phải đối phó không là sự chênh lệch giữa những điều kiện cá nhân và mục tiêu theo đuổi, mà chính ở chỗ lắm khi họ không còn tìm thấy lý lẽ để tiếp tục theo đuổi mục tiêu.
Khổ công của tác giả và dịch giả cho thấy nếu điều kiện cá nhân quả thật khó khăn thì ngược lại lý do theo đuổi mục tiêu càng thêm rõ ràng sáng chói.
Điều kiện cá nhân eo hẹp không bao giờ có thể ngăn chận những nhà sáng tạo. Trong một tập thể như tập thể người Việt hải ngoại, ngày nào còn có một người – dù chỉ một người thôi – vẫn cưu mang và bảo trì một số giá trị, thì nguồn mạch tinh thần và di sản văn hóa vẫn còn có hy vọng vươn lên.
Nếu tôi nhớ không lầm thì nhà văn lớn Pháp, Chateaubriand, đâu đó, có nói đến quá trình sáng tạo trong hoàn cảnh như thế qua hình ảnh những miểng vụn của một lọ hoa bị bể nát. Theo ông, chỉ cần một nấm đất và một luồng ánh sáng là đủ làm cho những mảnh vụn đâm chồi.  Nhà văn Albert Camus thì nói đến mạch sống của những hạt giống bị vùi dưới băng tuyết suốt cả mùa Đông ở một vùng Bắc Phi hẻo lánh. Chỉ một đêm thôi, khi đất trời trở mình, sáng ra, xuất hiện cả một thung lũng đầy hoa nở rộ.
Quá trình sáng tác và dịch thuật tác phẩm «Bưu Thiếp của Nam» hiển nhiên là một cống hiến cho tương lai trong cái ý nghĩa đó.
Cách thức bối cảnh Thuyền Nhân đưọc dựng lên trong tác phẩm khiến tôi nhớ lại một chương trình truyền hình Pháp với nhà bác học Pierre-Gilles de Gennes, khi ông đoạt giải thưởng Nobel về Vật Lý, năm 1991. Khi được hỏi mẫu người anh hùng của thế kỷ thứ 20 của ông là ai? Tướng de Gaulle, Gandhi, hay Mandela v.v, ông đã trả lời không chút do dự: Thuyền Nhân Việt Nam. Ông đã nói đến Thuyền Nhân với cái lễ độ tuyệt vời của một con ngưòi văn minh nhân ái. Không phải lễ độ hình thức của những câu nói rườm rà, cũng không phải lễ độ của trí năng qua những phân tích uyên bác, mà chính là cái lễ độ cao cả nhất: lễ độ của tâm can.
 Trần Văn Tòng

No comments:

Post a Comment