VOICE CONCERT:
Dda^y la` mo^.t chuong tri`nh thie^.n nguye^.n, do Gia'o Su Duong Nhu-Nguyen va dda.i ho.c Denver dda`i tho., kho^ng ba’n ve’ va`o cu?a, va` kho^ng tra? thu` lao cho nguo`i tri`nh die^~n, nha(`m mu.c ddi'ch ne^u cao ti’nh dda va(n ho’a (multiculturalism) va` cu?ng co^’ su. co’ ma(.t cu?a nguo`i My~ go^'c Vie^. t ta.i ca'c di.a phuong Hoa Ky`. Ne^'u co' va^'n dde^` ba?n quye^`n ca'c ta'c pha^?m sa'ng ta'c hay hi`nh a?nh du`ng va`o vie^.c gia'o du.c qua^`n chu'ng, ban to^? chu'c du.a va`o die^`u khoa?n ngoa.i le^. cu?a lua^.t truo'c ta'c (fair use exception) va` do^`ng tho`i xin phe'p ca'c ta'c gia? dde^? dduo.c tri`nh die^~n va` qua?ng ba'.
VỀ NHỮNG TUYỂN CHỌN CA'C BA`I HA'T…
Ba?n di.ch cu?a Tintin
Hợp Khúc: Tiễn Em (Farewell) và If You Go Away
TIễN EM (FAREWELL)
Good bye, my young love
This farewell for you
Winter in Paris
Sorrow in a kiss
Gone is summertime
Gone is our sunshine
Where you’ll go, you’ll find
This homeland of mine
Snow covers the train
Snow falls on your face
Keep with you my heart
Take with you our past
(Lời tìếng Anh: Uyen Nicole Duong)
Với một bầu kho^ng khí chính trị sôi nổi và những hoạt động văn học nghệ thuật mang tính sáng tạo, trong khoảng thập niên 1930 đến thập niên 1970, Paris được xem như là một trong những chiếc nôi của giới trí thức Việt Nam. Thành phố này đã là nguồn cảm hứng đồng thời cũng là mảnh đất ươm mầm cho rất nhiều nhà nghệ sĩ Việt Nam, trong đó có nhà thơ Cung Trầm Tưởng (1932-). Ông đã được nhiều người biết đến qua những bài thơ viết vềParis nói lên những khắc khoải tuyệt vọng của một mối tình lãng mạn giữa một người thanh niên Việt Nam xa xứ và một kiều nữ đất Paris. Một trong những bài thơ này của Cung Trầm Tưởng, “Tiễn Em”, đã được nhà nhạc sĩ tài hoa Phạm Duy phổ thành ca khúc vào đầu thập niên 60, ghi đậm nét những cảm xúc trước phút chia tay với người tình yêu dấu giữa một “Ga Lyon đèn vàng” trong khung cảnh của một mùa Đông Paris đầy trời tuyết phủ. Bản nhạc đã đưa ta trở về lại khung trời thơ mộng cũ của cả một thế hệ lớn lên trong những thập niên 50, 60 và đến nay vẫn tiếp tục sống đời lưu vong xa xứ.
Cung Trầm Tưởng là bút hiệu của nhà thơ Cung Thúc Cần, sinh quán tại Hà Nội nhưng đdi chuyển vào Sài Gòn kể từ năm 1949. Là một sĩ quan thuộc binh chủng Không Quân QLVNCH, sau 1975, ông đã bị bắt đưa đi “học tập cải tạo” hơn 10 năm và hiện nay định cư tại Thành phố St. Paul, Minnessota.

Tên tuổi và những giai điệu của nhạc sĩ Phạm Duy đã trở thành biểu tượng của nền âm nhạc Việt Nam đương đại. Sự nghiệp và cuộc đời nghệ sĩ của ông như được gắn liền với những nổi trôi của vận nước, khởi đi từ cuộc cách mạng mùa thu và trải dài qua lịch sử của tiến trình giải thực. Phần lớn những nhạc phẩm của ông vốn ngợi ca lòng yêu nước, tình hoài hương một thời đã tiêu biểu cho tinh thần của phong trào kháng chiến chống Pháp (1945-1954) mà cuối cùng đã bị xem như là cuộc cách mạng của Hồ Chí Minh. Trong thập niên 1960, ông đã cộng tác với một số nghệ sĩ Mỹ và những nỗ lực này đã quốc tế hoá những thể điệu ba-lát của Phạm Duy qua những ca khúc cụ thể như “Giọt Mưa Trên Lá”. Phạm Duy đồng thời cũng đã có những nỗ lực để ký âm, hệ thống hoá và phát triển nền dân ca Việt Nam, mà trước ông, phương tiện lưu hành chính của bộ phận này là truyền khẩu. Là người Hà Nội, Phạm Duy ban đầu đã tự học lấy âm nhạc, sau đó vào năm 1954-1955, ông sang Pháp theo học trườngInstitut de Musicologie , Paris, dưới sự hướng dẫn của Robert Lopez với tính cách của một bàng thính viên. Tác phẩm quan trọng của ông là bản đại hợp xướng “Trường Ca Mẹ Việt Nam”. Theo tin tức gần đây thì Phạm Duy đã trở về sống những chuổi ngày còn lại của ông tại Việt Nam.
IF YOU GO AWAY — NE ME QUITTE PAS
(Lời Việt: Uyen Nicole Duong)
Được xem như là một bản nhạc ăn khách tại Hoa Kỳ “If You Go Away,” với giai điệu truyền cảm nguyên là một sang tác cúa
Được xem như là một bản nhạc ăn khách tại Hoa Kỳ với giai điệu truyền cảm,“If You Go Away,” (lời của Rod McKuen) nguyên là một sáng tác cúa Jacques Brel, một nhân vật đã đi vào huyền sử. Năm 1985, 7 năm sau khi mất, tờ nguyệt san Lire của Pháp đã trưng cầu ý kiến độc giả với câu hỏi nhân vật nào mà nhân cách đáng để họ chọn làm khuôn mẫu của bậc làm cha mẹ, kết quả là Jacques Brel đã đứng đầu danh sách với 40%, rồi Gerald Philippe 19%; Albert Camus 13%; và Charles de Gaulle 11%. Năm 2000, tạp chí âm nhạc Mojo đã phỏng vấn những nhạc sĩ hàng đầu của Anh và Mỹ về những bản nhạc mà họ cho là vĩ đại nhất vượt khỏi thời gian. Ne me quitte pas của Brel là bản nhạc ngoài tiếng Anh duy nhất đã được liệt kê vào danh sách.
Năm 2003, hơn 25 năm sau khi ông mất, thành phố Brussels đã thực hiện một loạt những triển lãm và hoà nhạc để tưởng niệm Jacques Brel. Thế nhưng, Brel hầu như không mấy được biết đến ở tại những xứ sở nói tiếng Anh, lý do đơn giản một phần có thể là vì ông đã từ chối không hát những ngôn ngữ nào ngoài tiếng Pháp. Người Pháp đã xem ông là của riêng họ, thế nhưng thực ra Brel đã chào đời vào năm 1929 trong một gia đình Công giáo trung lưu tại thành phố Schaerbeek, vương quốc Bỉ. Con trai của một chủ hãng sản xuất các hộp bìa cứng, Brel đã nối nghiệp cha và lập gia đình vào năm 20 tuổi, đến năm 23 tuổi thì ông đã có hai con gái và cuộc đời ông tưởng như đã dính chặt vào với thế giá đời thường. Jacques đã bắt đầu tập tành ghi-ta và viết nhạc để nói lên những nỗi phiền muộn của mình. Năm 1952, ở tuổi 23, ông từ bỏ công việc cùng với vợ, Michelle, và hai con gái Chantal và France, rời Brussels đến Pháp cư ngụ tại một khu lao động nghèo nàn ngoại ô thành phố Paris, trong một căn lều gỗ không có cả nước máy. Ông bắt đầu sáng tác nhạc và tìm cách bán chúng cho các nhà xuất bản. Nhưng cuối cùng ông nhận ra một điều rằng muốn cho các sáng tác của mình được phổ biến không có một con đường nào khác hơn là phải tự hát lấy những bản nhạc của mình.
Những bản nhạc của Jacques Brel thường lấy đề tài về người thực, việc thực, từ những khúc ngợi ca tình yêu đến những lời lên án các tệ trạng xấu xa như đạo đức giả, bất công, sự vô cảm trước đời sống (Về mặt này Brel thường được so sánh với Bob Dylan, John Lennon and Leonard Cohen). Ông đạt đến danh vọng phần lớn là do sự xuất hiện liên tục trên sân khấu cùng những ca khúc phản ảnh sự giải trừ những hệ lụy vướng mắc, đó là những vướng mắc hệ lụy gởi gắm trong những cuộc tình không trọn, của nỗi chia xa, mà nhạc phẩm If You Go Away là một thể hiện cụ thể của tinh thần này, như là một dấu ấn của tình yêu, nỗi tuyệt vọng và đam mê không trọn vẹn. Không cần phải có tên tuổi của Brel, bản nhạc tự nó đã đạt đến tầm vóc quốc tế.
Brel đã thực hiện hơn 200 lần trình diễn mỗi năm trong suốt 12 năm liền. Ông đã lưu diễn xuyên suốt Liên Bang Sô Viết (một đoạn đường dài 18,000 km từ Siberia đến Hắc Hải trong 5 tuần lễ); người ái một đến với ông chật kín hội trường Carnegie Hall, New York; hơn 5,000 dân Luân Đôn nồng nhiệt chào đón ông tại Royal Albert Hall; dân Paris đứng dậy hoan hô ông 20 phút liền tại đại sảnh Olympia. Các ca sĩ lừng danh Frank Sinatra, Ray Charles, David Bowie và bao nhiêu người khác đã từng hát những ca khúc của Brel.
Cuối đời, Jacques Brel đã trải qua một trận chiến cuối cùng với bệnh ung thư phổi trong khi đang sống một cuộc đời nhàn hạ tại hải đảo Polynesia thuộc Pháp, nơi mà nhà họa sĩ tài danh Paul Gauguin được an táng. Ông trở lại Paris năm 1977 để thực hiện cuốn « an-bum » cuối cùng của mình và qua đời một năm sau đó, 1978. Thi hài của ông được an táng tại Hiva-Oa, cùng chung một nghĩa địa với Paul Gauguin.
SERENATA
Bản nhạc nổi tiếng quốc tế này có lẽ cũng không cần phải giới thiệu. Serenata (Rimpianto) là một nhạc khúc tiêu biểu của Enrico Toselli (1883-1926), mà cuộc đời của ông chứa nhiều tình tiết như trong một nhạc kịch hay cuốn phim truyện. Sinh quán tại Florence, nhà nhạc sĩ người Ý này đã khởi đầu sự nghiệp như là một dương cầm thủ, đôi khi đã phải thực hiện các cuộc trình tấu xa đến tận Bắc Phi. Ông càng nổi danh thêm khi kết hôn với Công chúa nước Áo-Tuscany, Luise Antoinette-Marie, vào năm 1907, người trước đó đã gây khá nhiều tai tiếng khi bỏ rơi người chồng đầu tiên. Hai người đã ly hôn vào năm 1912 sau 5 năm chung sống. Dư luận cho rằng bản nhạc Seranata đã ghi lại cuộc đời tình ái không mấy hạnh phúc của Toselli, mặc dầu không có một bằng chứng nào cho thấy chuyện này.
Trong số những sáng tác của Toselli, Serenata là một nhạc khúc phổ biến và nổi tiếng trên khắp thế giới, được biên soạn để trình tấu bởi nhiều loại nhạc cụ khác nhau. Chính tác giả cũng đã soạn ca khúc này để trình tấu bằng viôlông và dương cầm thể theo yêu cầu của đa số khách thưởng ngoạn. Chỉ với tiếng đệm của dương cầm thôi cũng đủ để tạo nên hấp lực quyến rũ của bản nhạc này. Tính cách lãng mạn của Serenata là yếu tố đã tạo nên tiếng tăm cho tác giả khi sáng tác nên ca khúc tuyệt vời này. Năm 2001, ca sĩ Jose Carreras đã trình bày ca khúc Seranata tại Carnegie Hall và đã đón nhận hàng tràng pháo tay dài tán thưởng.
Ca khúc Serenata khá phổ biến tại Việt Nam trong giai đoạn tiền chiến tranh, nho` nhạc sĩ Phạm Duy đã viết lời Việt cho bản nhạc bất hủ này.
VOI QUE SAPETE
Được sáng tác bởi nhà nhạc sĩ lừng danh thế giới Wolfgang Amadeus Mozart (1756-1791, sinh quán Salzburg, mất tại Vienna), đây là một trích đoạn từ vở Đại Nhạc Kịch (Opera) bốn phân cảnh "Le Nozze Di Figaro" (The Marriage of Figaro: Cuộc Hôn Nhân của Figaro) nêu bật tính chất trữ tình và khả ái của Cherobino, nhân vật thể hiện vai trò “pants” của vở nhạc kịch (người phụ nữ hát giọng nam trẻ), đặc biệt do một người hát giọng nữ cao vua` (mezzo soprano) thực hiện. Cherobino là một chàng thanh niên trẻ giúp việc tại hoàng cung vừa chập chững bước chân vào đời, yêu tất cả những phụ nữ mà anh mới gặp -đặc biệt là vị nữ bá tước, người tạo nên nguồn cảm hứng mà anh hát tặng với tất cả trái tim mình. Trong Voi Que Sapete, Cherobino đã hỏi vị nữ Bá tước bằng một ngôn ngữ van nài, mê đắm tràn ngâp cảm xúc, “Ai là người cho tôi câu trả lời, Ai là người nắm chiếc chìa khóa, những bí mật dấu ái của tình yêu? Xin hãy chia xẻ với tôi…”. Người viết lời cho bản nhạc kịch Ý này là nhà thơ Lorenzo da Pontecủa triều đình Vienne.
Cherubino trong Voi Che Sapete đã là một khuôn mẫu của thể điệu trữ tình lãng mạn thể hiện qua một chuyển động với nhịp độ nhanh đối xứng. Uyen Nicole Duong sẽ hát Voi Che Sapete để biểu lộ nét tương đồng giữa kỹ thuật Mozart và thể điệu dân ca Việt Nam, phảng phất trong các khúc trường ca hợp xướng của nhạc sĩ Lê Thương, cho dù có sự khác biệt giữa ngũ cung Đông phương và nền âm nhạc truyền thống Tây phương.
Vào thời đó ''The Marriage of Figaro'' được xem như là một loại hình nhạc kịch mới pha trộn giữa hài tính và nghiêm túc. Chọn lựa bối cảnh của giai cấp lao động tại Âu Châu, Mozart và DaPonte đã khai triển nhạc kịch từ một vở kịch của Beaumarchais từng gây tranh cãi tại Âu Châu khi đã thách thức công khai những giai tầng thống trị. ''The Marriage of Figaro'' đã cho Mozart và DaPonte những gì mà họ đang tìm kiếm -những nhân vật gói trọn thương yêu, đau khổ, những khóc, cuời, âm mưu và tha thứ. Mozart đã hiểu rõ thân phận kiếp người và qua đó bằng âm nhạc thể hiện chân dung của những nhân vật không mang tính phê phán. Ông đã miêu tả những giai cấp binh da^n và thượng lưu với cùng một ngôn ngữ âm nhạc tuyệt vời và cảm xúc sâu sắc như nhau.