ABOUT THE THREE BLOOMS OF NARCISSUS ba nu. thuy? tie^n...


In her private world -- the world of a self-taught artist, the three blooms of narcissus reminded her of three Vietnamese school girls before 1975, sweet and innocent. All in pastel colors, like that touch of nostalgia...Trong thế giới riêng tư của cô — thế giới tự học, có ba đóa tiểu thủy tiên (narcissus). Đây là loài hoa tôi rất ưa thích vì cái mộc mạc dịu dàng và nhỏ bé của nó. Ba bông thủy tiên này...Những bông hoa thanh tao bé nhỏ này làm cô nhớ đến hình ảnh ba nữ sinh Việt Nam quấn quýt bên nhau trước 1975. Màu trắng tinh khiết ẩn chút xanh xanh mơ màng hắt lên từ lá, nhụy hoa màu vàng anh tươi mà nhã, xen giữa những cọng lá dài và xanh — có cọng vươn thẳng đầy nhựa sống, có cọng ẻo lả nghich ngợm. Tất cả là màu sắc mềm của phấn tiên...

Friday, February 15, 2013

VIET TRIBUTE: ABOUT A LITERARY READING AND ONE-WOMAN MUSICAL RECITAL IN SAN JOSE, CALIFORNIA


ONE THOUSAND WAYS TO EXPRESS YOUR LOVE -- MỘT NGÀN LẺ MỘT CÁCH YÊU EM

DƯƠNG NHƯ NGUYỆN - đăng lúc 10:25:48 PM, Apr 10, 2007
SOURCE OF FIRST PUBLICATION:  vietbang.com
Bài thơ xuôi cho người yêu 
chưa hề gặp mặt 
một ngàn lẻ một cách yêu em

Em chưa hề gặp anh,
mà đã biết yêu anh
từ những ngày quê hương ấy,

Và bây giờ,
Chỉ xin anh thốt vội lên
Một ngàn lẻ một cách yêu em
 ***
I.
Em đã nghe nói về anh, người chưa hề gặp mặt,
Người của định mệnh, của nhân duyên bắt mạch từ cội nguồn trăn trở thời xa xưa

Em nghe nói về anh từ tuổi thơ không còn êm ái,
như đứa bé gái tâm thức còn non dại, vẫn thích đọc báo về thời cuộc điêu linh,
Ðọc bằng đôi mắt mở lớn thơ ngây chưa vướng bui trần, đã hăm hở muốn dấn thân vào đại cuộc,
Ðọc bằng trí tuệ phôi thai như ngọn lúa chưa ươm mầm ngoài đống ruộng bao la
Ðọc bằng tâm linh náo nức như tơ đàn mới tinh, chưa một lần lên giây hay so phím, đã vang rền trong nhạc viện của linh hồn
Dđứa bé gái nhắm mắt ngủ mơ, giấc trưa hè gay gắt
Trong con hẽm nào đó của Sài Gòn bụi bặm khi gót chân
bộ đội chưa tô son trét phấn mặt hồ
Ngoài song,
Có tiếng ca vọng cổ Út Bạch Lan, thảm sầu nỗi niềm tố nữ
Tiếng trẻ con khóc
Tiếng người lớn tranh đua
Nhịp chân rầm rập của đám lái buôn giết heo, vác thịt mới ra lò ở Ngã Ba Ông Tạ.
Tiếng người xướng ngôn đài phát thanh tường thuật tin phóng viên nói về chiến trường, người Mỹ vẫn còn chờ đếm xác da vàng,
Và đâu đó tin Quốc Hội Lập Hiến vừa mới họp khóa đầu tiên -- chuyện dân chủ tự do cho Ðệ Nhị Cộng Hòa – 
đâu là dân trí?
đâu là lá phiếu?
đâu là thông điệp cho ngày mai?
Trong cuộc tương tàn Quốc Cộng

Thursday, February 14, 2013

POETIC PROSE FOR THE MAN OF DESTINY -- BÀI THƠ XUÔI CỦA NGƯỜI ĐỊNH MỆNH

DƯƠNG NHƯ NGUYỆN - đăng lúc 03:09:36 AM, Jul 27, 2009
SOURCE OF FIRST PUBLICATION: vietbang.com
“It’s only words
And words are all I have
To take your heart away…”
(my memory of an American song)

JE T’AIME A L’ÉGAL DE LA VÔUTE CÉLESTE
Tình của tôi yêu em như vòm trời
Ở đó ánh mắt bồ câu của em là tinh tú

Tình của tôi yêu em như giải thiên hà
Ở đó nét cọ son của em là cầu vồng cho tôi đi tới

Tôi không có kim cương sáng bằng ánh mắt của em
Tôi không có lam ngọc xanh bằng nét vẽ của em
Làm sính lễ hỏi em người hôn phối
Cho một ngày em mặc áo trắng bằng ren
Trên chuyến xe ngựa trắng, trở về tòa lâu đài của tuổi nhỏ

Hoặc một ngày em mặc áo gấm đỏ? khăn vành xanh
Trở về quê trên chiếc thuyền mộc mạc của kinh rạch miền Nam
con ngựa ô nhún nhẩy, “em theo chàng về dinh…”

Phải chăng tất cả là ảo vọng?
Trên đỉnh cuộc đời đã lắm phù du…


Cho nên tôi phải lấy ngôn từ làm căn bản yêu em
Để ánh mắt em bừng sáng trên vòm trời định mệnh

Cho nên tôi sẽ đi tới tình yêu trên chiếc cầu vồng em vẽ
Tôi yêu em với ngôn từ
Em vẽ tình tôi bằng cọ son
JE T’AIME A L’ÉGAL DE LA VÔUTE CÉLESTE

DƯƠNG NHƯ NGUYỆN
copyright JULY 2009

AT THOSE FREE SUNDAY AFTERNOON CONCERTS -- Ở NHỮNG BUỔI HÒA NHẠC MIỄN PHÍ CHIỀU CHỦ NHẬT

 http://www.vietbang.com/images/articletypebullet.gif Thơ mới & thơ tự do:
DƯƠNG NHƯ NGUYỆN - đăng lúc 03:05:07 AM, Jun 23, 2012 
SOURCE OF FIRST PUBLICATION:  vietbang.com; damau.org

Ở những buổi hòa nhạc miễn phí chiều chủ nhật
Anh sẽ đi tìm giọng hát em
giọng hát trong như tiếng vỡ thủy tinh giờ ly biệt,
như nước mắt long lanh của hoàng hậu Chiêm thôi tìm kiếm ngai vàng

Giọng hát ngân nga trên đầu cây xanh
vấn vương trên ngọn lá
rồi đọng thành những giọt sương phủ dầy thảm cỏ Beethoven
thấm vào lòng anh cung điệu buồn hơn khói lam chiều của xóm nghèo đất Bắc
từ tiếng khoan não nuột của nàng Kiều
qua tiếng đục thê lương, như bùn Cửu Long, dưới chiếc thuyền nan rách nát
kết thành hình bóng Trương Chi, trong tách café ngọt đắng Sài Gòn, sóng sánh
dưới môi son mầu san hô, hơi thở em thơm hơn mùi sữa đọng, thủa còn ngây thơ...

Ở những buổi hòa nhạc miễn phí chiều Chủ nhật
Anh sẽ đi tìm chiếc cầu vồng của Thiên Ðường quá khứ
treo giải Ngân Hà lên những sợi mi cong che đôi mắt buồn da diết của em
giải Ngân Hà nghiêng nghiêng trên đôi mắt viền bút chì đen
thâm quầng mầu ma quái

Từ khoảng đen muôn trùng ấy
sáng lên ánh bạc của chuỗi hạt trai viền ngấn cổ, viền tiếng ngân run rẩy vibrato
nhửng hạt trai nỉ non mang tâm sự Mỵ Châu khi nàng trở về với biển
những hạt trai mà con sò cô đơn của Thái Bình Dương đã bỏ mất

Anh sẽ trải chiếc cầu vồng của quá khứ lên phím ngà Chopin
để em thả hạt trai về với biển
chuộc lại cho em tuổi thơ đã dập vùi
xây lại cho em bằng Valse Polonaise, quê hương đã cằn cỗi điêu tàn

Ở những buổi hòa nhạc miễn phí chiều chủ nhật
nơi đó anh sẽ so lại dây hồ cầm
đem về cho em mối tơ tình Schubert
những sợi tơ óng ả, lâu bền như ba trăm năm sầu hận Nguyễn Du
... vương vấn chi chút nghĩa cũ càng, vẫn còn hay mất khi tơ lòng đã vội lìa ngó ý?

Tiec thay chut nghia cu cang
Dau lia ngo y con vuong to long


Và khi em dứt tiếng ngân cuối cùng
gục người xuống
ngước mắt lên nhìn cuộc đời trước mặt xiêm áo nở tung
như cánh sen hồng cũa Tịnh Tâm triều Nguyễn

Giây phút ấy, dây đàn anh sẽ đứt...
và chiều chủ nhật sẽ tàn
như bản hợp xướng cuối cùng trước ngày tận thế, vẫn dở dang...

Thôi thì thôi anh nhé
chân trần cứ tiếp tục lang thang...
ở những buổi hòa nhạc miễn phí chiều chủ nhật
ở những nơi chốn không còn gọi là nhà

Tìm cho ra giọng hát Diva đã mất ngôi thần tương
tìm cho ra thảm cỏ Beethoven đã vàng úa
phím ngà Chopin đã vụn vỡ
đường tơ Schubert đã đứt ngang
tìm cho ra tình đầu không còn nhớ
mà tình cuối đã vội quên

Tiếng hát em
ánh mắt em
xiêm áo em
đổ vỡ này
nhung nhớ ấy
tất cả chỉ còn ngân đọng lại
trong dư hương buổi hòa nhạc miễn phí chiều chủ nhật

Muôn thủa đi tìm em nhé
ở những buỗi hòa nhạc miễn phí chiều chủ nhật
trong tư duy sầu vạn cổ
của em.

copyright August 2006
Uyên Tristesse 

1975 VERSUS TODAY: THE EARLY JOURNALISTIC CAREER OF "NGUYEN DUONG" VERSUS NOVEL WRITING

NOTE FROM WENDY N. DUONG:  In 1975, the year that no Vietnamese American should forget, I was Nguyen Duong at Southern Illinois University.  That was my by-line.  My writing was first recognized by the journalism professors at SIU.  (I brought this real-life experience into the creation of my fictitious character Mimi in "Mimi and Her Mirror.")  Below is the trace of my debut into the world of small-town journalism.  It was not until 1998, when I took my first "early retirement" at age 40,  that my fiction writing first received some recognition, this time from the two bar associations to which I sent my short story, "The Young Woman Who Practiced Singing." Acting independently, they each gave me a writing award in 1998.
I sent the story to Pulitzer author Robert Olen Butler, who called and gave me my first lesson in creative writing over the phone. He also wanted me to undertake MFA studies under him in Louisiana, an opportunity that I could not afford to pursue then.


ABOUT DR. DUONG DUC NHU

DUONG DUC NHU.  Born 1934, Son-Tay, Vietnam. Second child of the village chief of Phung Thuong, Phuc Tho, Son-Tay, and maternal grandson of a Confucius teacher (Cu. Ddo^`) who opened a school near Ha't Mo^n, Son-Tay.  His oldest sister died at 20 during the Indochina War.

B.A. English, University of Saigon; M.A. linguistics, University of London (thesis and Ph.D.-equivalent coursework on applied  linguistics and structural linguistics, uncommon Asiatic languages); Ph.D. educational leadership, Southern Illinois University (dissertation on systematic review of French educational policies and colonial implementation in Vietnam).  British Council scholar (1961); Fulbright Scholar (1972).
Taught at Tran Quy Cap (Hoi-An), Dong Khanh (Hue), and Petrus Ky (Saigon).  Professor/faculty member, School of Pedagogy, University of Hue, Faculty of Letters, University of Saigon, Van-Hanh University; Director of Planning & Research, Director of Overseas Studies, Republic of Vietnam's Ministry of Education. Fluent in English, French, and Vienamese; thorough knowledge of written Chinese (chu Han); research into Chu Nom (Vietnamese deviation from Chinese).  Thinks of himself as an educator, researcher, and translator, not as a creative writer.
Published work in South Vietnam (pre-1975):  Dich Viet Anh, an anthology of English translation of Vietnamese literary texts; Nguoi Thuc Nu, translation of Fyodor Dostoyevsky's The Gentle Maiden) (both pieces of literary translation advocate the use of the literary text as tools for learning English as a Second Language, used at the Faculty of Letters, University of Saigon).  Author of various articles published in Mai-Thao-led literary magazine: e.g., Phan Biet Ngu, Ngon, va Ngon-Ngu (Distinction between Diction, Parle, and Language), Ddo.c Do.c Dduo`ng cu?a Thanh Ta^m Tuye^`n (literary critique:  "Upon Reading 'Along the Road' by Thanh Tam Tuyen"), Xem Tranh Dinh Cuong (art critique: "Upon Viewing Artist Dinh Cuong's Paintings").
Other 1975 writings:
--Thu Ban Den Vai Van De Ngu Am Nham Y Tuong Chinh Tien Van Tu Viet Ngu (Comments on Phonetics Issues for the Thought of Improving Written Vietnamese) (Van Hoa Nguyet San 1965).
--Trang Thai Ngon Ngu va Ngu Hoc Tinh (The Status of Language and Linguistics Properties) (VHNS 1964).
--Ngon Ngu Co He Thong Hay Khong? (Is Language Systematic?) (VHNS 1964).
--Transformational Grammar:  A Brief Review of Chomsky's "Syntactic STructures" (VHNS 1964).
Fulbright-sponsored unpublished work interrupted by the fall of Saigon in 1975:  Revising the IBMElectric Typewriter Keyboard to Accommodate the Vietnamese Language (pioneer work predating today's Vietnamese fonts used in the computer industry); Entry into the World of Picasso's Cubism for Vietnamese Viewers.
Work after 1975:  Anthology of Articles by Teenage Writers on the Vietnamese Culture for the Houston Independent School District; translation of Duong Nhu Nguyen's Her Nine Words (Chin Chu Cua Nang), Chiec Phong Cam Cua Bo Toi (My Father's Accordion) (The Ky 21), and Hoang Hau Chiem Thanh (The Queen of Champa) (unpublished); Suggestions for Standardizing the Vietnamese Language (Van/Van-Hoc); other unpublished and ongoing work relates exclusively to poetry composition in Chinese, and research into Tho Duong (Tang Dynasty Poetry) and Tho Chu Han (Chinese poetry) such as:  Dich tho Duong (typified by Tiet Phu Ngam); Tho Chu Han Cua Nguyen Du.  Dr. Duong's work can also be found in Dong Viet Collection (1993-2009) (Southeast Asian Culture and Education Foundation).
[The above biography is based on memory recollection and/or personal knowledge of Dr. Duong's children living in America. Contact wendynicolennduong@post.harvard.edu for additional information.]


Handwriting of the former village chief of Phung Thuong  recreating the Duong Family's geneology from North Vietnam, and leaving words for his descendants in America. He died and was buried in Southern California (1994). 

THE EARLY 1990s: THE FIRST VIETNAMESE AMERICAN JUDGE IN HOUSTON, TEXAS, 1991-92

NOTE FROM WENDY N. DUONG:  In the early 1990s, I accepted the judgeship appointment in Houston as a public service, and out of a sense of community obligation.  I took my judgeship very seriously and devoted all of myself to it, the same way I had dedicated myself to my federal legal employment, first with the U.S. District Court, Southern District of Texas, Galveston Division, and then, as a trial attorney for the Securities & Exchange Commission in Washington D.C.  That was fond memory of the Capital City.
    For the judgeship, I held court at night and on Saturdays (a reality for the busy "real people" municipal docket in an urban environment like Houston).  I did not seek reappointment, but, instead, left Texas to pursue an international legal career and to have the freedom to  devote myself more fully to the arts.


The unofficial comment I heard through the great vines of Houston was that many thought the mayor had recommended a...skinny fashion model to the municipal bench (see my picture above to see how underweight I was those years!)  So, during my judgeship, I ate a lot of rice to gain weight. I was successful, as seen in subsequent press pictures!  For example, I was shown below in the company of fellow judge Timothy Seo, Economist Wendy Gramm, wife of Senator Phil Gramm and Chair of the CFTC in Washington, D.C., together with a singer-performer at a gala held in Houston.   
What was important to me then was the recognition from the American Bar Association, which held for the first time a conference featuring minority women in the judiciary.  For the first time, a Vietnamese female name appeared on the list, and that was 1993.  It was not until 18 years later that President Obama appointed the first Vietnamese American female lawyer to the U.S. District Court.  I gave up that dream for my career in 1987, putting personal freedom over the pursuit of a lifetime judicial career.  Looking back, I cannot say that my decision was correct.  But the more exciting part of my life, at any age, is to move forward and not to regret.  

TRIBUTE TO VIETNAMESE:  I was very touched to find out that even after my resignation from Houston's municipal bench, unknown Vietnamese have painstakingly compiled my bio from various sources for posting on the internet. They did this without my knowledge, and with a sense of responsibility for the facts as well as the opinions of those who were quoted. My fellow Vietnamese show great respect for my judgeship during our earlier days of resettlement here.  The  bio (below) was sent to me by a friend of my parents, who found it on the internet after reading one of my short stories written in Vietnamese. This bio was the most accurate portrayal of me in the public domain.  It spoke of the woman, and not just the judicial appointee for the City of Houston.  I think of my modest judgeship of the early 1990s in diverse Houston as belonging to the Vietnamese presence in the U.S., our hard work and our collective pride. 




Wednesday, February 13, 2013

ABOUT OP-EDS AND EDITORIAL SELECTION OF ARTICLES

Please consult the list of labels on the right-hand side or at the end of this Blog for the categories of content you may desire to read.  

Xin nhi`n va`o danh mu.c "labels" o? be^n co^.t pha?i hay phi'a duo'i cu?a Blog de cho.n lu.a no^.i dung. 


Op-ed's published herein are the opinions and work of the authors, and do not represent the work products or opinions of author Uyen Nicole Duong, nor the consensus or collective view of House of Duong Nhu-Nguyen. We invite and welcome varied viewpoints but reserve the right not to post any particular viewpoints based on our editorial judgment, logistical or practical reasons.

Dữ kiện và ý kiến đăng ở mục "Quan Điểm" là của tác giả bài viết được đăng trong mục này, không phải là ý kiến hay tác phẩm của DNN hay quan điểm thống nhất đại diện cho "Nhà Của DNN." Chúng tôi đón nhận tất cả mọi quan điểm nhưng bắt buộc phải quyết định có đăng hay không tùy theo nhận xét của người chủ trương cũng như tùy thuộc vào các lý do thực tế hay các yếu tố kỹ thuật.

Items sent to House of DNN for posting will be reviewed for content selection and will be edited only for format and grammar. We will not check facts, alter contents, viewpoints, or treatment. Nor will we revise the author's writing style or organization. Those are the direct responsibilities and choices of the author.

Bài của tác giả sẽ được đọc để xem có thích hợp với chủ trương tổng quát của Nhà của DNN và sẽ được duyệt lại về hình thức và văn phạm mà thôi. Chúng tôi sẽ không truy tìm tài liệu hay kiểm lại tính chính xác của bài viết mà cũng không thay đổi nội dung, dữ kiện hay cách viết. Đó là trách nhiệm trực tiếp của tác giả bài viết.

GATHERING AND TRANSLATING THE POETRY OF BAUDELAIRE -- THU NHẶT VÀ PHỎNG DỊCH THƠ BAUDELAIRE

POETRY TRANSLATION Thơ dịch
NHỮNG CÁNH HỒNG ÐEN
DƯƠNG NHƯ NGUYỆN - đăng lúc 03:13:07 AM, Mar 18, 2009 
SOURCE:  vietbang.com

Có đôi lúc
trong căn phòng chúng ta cùng chia xẻ
hình ảnh những bông hoa hiếm nhất trong đời
đượm sắc hương kiều nữ

trên tường, tranh Á đông huyền diệu
lên tiếng quê hương ngọt ngào
thì thầm bên tai
một linh hồn khắc khoải

Khoái lạc, yên lành, và hoa lệ
Tất cả bình thường, thanh lịch, tràn ngập nơi nơi
...
Bao sắc màu, ngay cả màu đen
thành lăng kính chói lọi
chuyển nước thành thủy tinh
và dòng pha lê tuôn lệ


Baudelaire's Trembling Flowers  
DNN C2010 enamel on paper
Ðây là lúc trên cành rung nhè nhẹ
Từng đóa hoa tỏa hương trong màn đêm
âm thanh và hương sắc hòa cùng bóng tối
theo tiếng vĩ cầm
làm run rẩy
trái tim đau

Mặt trời đã giãy chết trong giấc sấu ảm đạm
như giải khăn tang lướt thướt về phương Ðông
em hãy lắng nghe đi
nhịp chân ngập ngừng, sầu muộn của nàng Ðêm

Linh Chân và Như Nguyện phỏng dịch
những dòng thơ trích từ "Fleurs du mal" của Charles Baudelaire (1821-1867)
 
CHÚ THÍCH: 
Phỏng dịch nhắm vào tính phóng khóang của ngôn ngữ và sự diễn đạt hình ảnh cũng như âm điệu của thơ.

THE PRIVATE SORROW OF DIỄM -- SẦU RIÊNG CỦA DIỄM

BILINGUAL POETRY Thơ Song Ngữ

DƯƠNG NHƯ NGUYỆN - đăng lúc 02:44:02 PM, Dec 28, 2008
SOURCE:  vietbang.com
LGT cua vietbang.com: 
Với 3 tác phẩm - Mùi Hương Quế (Văn Nghệ 1999), Chín Chữ Của Nàng (Văn Mới 2005) và Daughters of River Huong (Ravens Yard Publishing Ltd 2005), DƯƠNG NHƯ NGUYỆN nổi tiếng như một nhà văn hải ngoại đã thành danh..
Nếu ở Pháp có MAI NINH với Cuộc Trầm Sát của Loài Cá Voi (2004), Ảo Ðăng (2005), Hợp Âm Trong Vùng Sân Khuất (2000) thì ở Mỹ có DƯƠNG NHƯ NGUYỆN. Cả hai đều là nhà văn khoa bảng nữ có học vị Tiến sĩ.
Trong những tác phẩm của cô, những hiện tượng Tâm Sinh Lý xẩy ra trong tâm hồn các nhân vật (Chủ thể và Chủ thể tha nhân) được phân tích rất cặn kẽ và sâu sắc.
DƯƠNG NHƯ NGUYỆN không khác với một SIMONE DE BEAUVOIR trong Văn Học Pháp sau Thế Chiến II và gần cuối Thế kỷ XX, cho Vie^.t Nam ha?i ngoa.i.
Ít người biết - DƯƠNG NHƯ NGUYỆN còn là một nhà thơ, thi pháp điêu luyện, xử dụng thành thạo kỹ thuật thơ hiện đại như ẩn dụ, điệp ngữ, nhân cách hóa.v.v...
SẦU RIÊNG CỦA DIỄM - bài thơ của thời con gái, DƯƠNG NHƯ NGUYỆN viết khi tuổi đời chưa đến 20.


VIỆT BẰNG

-----------------
SẦU RIÊNG CỦA DIỄM

“Từ ngày chia nửa múi sầu riêng
Chia nửa buồng tim với Diễm Huyền...”

Diễm theo vệt nắng thu tàn
Tôi theo ngọn gió trường giang dãi dầu
Diễm như Thị Ðiểm bên lầu
Tôi mang lòng Nguyễn Du sầu trăm năm
Ai thêu gối đẹp Diễm nằm?
Ai may chăn lụa cho lòng Diễm vui?
Diễm như phấn điễm trang đời
Tôi như vó ngựa của người chinh phu
Thương em đôi mắt phù du
Như con bướm gọi mùa thu chưa về
Thương em lòng đã ê chề
Mong gươm Từ Hải câu thề ngàn xưa
Thương em ngồi đợi mùa mưa
Xôn xao kẻ đón, người đưa lạnh lùng
Ðời này không có tình chung
Thời này không có anh hùng cho em
Diễm theo câu hát vành khuyên
Tôi theo tiếng gió trong đêm ngút ngàn
Ðể đêm mắt Diễm thôi huyền
Ðể trong tim Diễm sầu riêng một đời.
DƯƠNG NHƯ NGUYỆN
copyright 1989

THE PRIVATE SORROW OF DIEM
I am, next to her the nightingale,
the soundless wind in winter night tale
I am, next to her the last trace of sunset,
the shapeless wave caught in a river net

She is Thi Diem in her veranda
I follow Nguyen Du‘s heart in life’s agenda
Who embroiders her dainty pillow,
and a silky quilt to shield her from sorrow?
I am, next to her, the perfumed powder of life,
the humble horse of a wandering knight
The corner of her eyes reflecting life‘s emptiness,
a lonely butterfly carrying Autumn homeward
Her soul, too, awaits in sorrow,
the promise of Tu Hai and his sword‘s shadow

She has left behind the rainy season,
the pursuit of the crowd.., a lonesome reflection
for a world where chaos reigns as kings
loyalty exists no more, angels are beings
So in the shadow of the night, her eyes cry velvet
as her heart bears down, sorrow too private.
UND copyright December 1989