ABOUT THE THREE BLOOMS OF NARCISSUS ba nu. thuy? tie^n...


In her private world -- the world of a self-taught artist, the three blooms of narcissus reminded her of three Vietnamese school girls before 1975, sweet and innocent. All in pastel colors, like that touch of nostalgia...Trong thế giới riêng tư của cô — thế giới tự học, có ba đóa tiểu thủy tiên (narcissus). Đây là loài hoa tôi rất ưa thích vì cái mộc mạc dịu dàng và nhỏ bé của nó. Ba bông thủy tiên này...Những bông hoa thanh tao bé nhỏ này làm cô nhớ đến hình ảnh ba nữ sinh Việt Nam quấn quýt bên nhau trước 1975. Màu trắng tinh khiết ẩn chút xanh xanh mơ màng hắt lên từ lá, nhụy hoa màu vàng anh tươi mà nhã, xen giữa những cọng lá dài và xanh — có cọng vươn thẳng đầy nhựa sống, có cọng ẻo lả nghich ngợm. Tất cả là màu sắc mềm của phấn tiên...

Showing posts with label EXCERPTS FROM FICTION Trích từ truyện sáng tạo. Show all posts
Showing posts with label EXCERPTS FROM FICTION Trích từ truyện sáng tạo. Show all posts

Monday, January 28, 2013

FICTION: MY FATHER'S ACCORDION -- Chiếc Phong Cầm Của Bố Tôi


EXCERPTS FROM FICTION Trích từ truyện sáng tạo:
Chiếc Phong Cầm Của Bố Tôi
Truye^.n nga('n
Dương Như Nguyện
copyright 1996, 1999, 2013

Chú thích:  Nguyên tác "My Father's Accordion," do chính tác giả viết lại bằng Việt Ngữ, dùng nguyên tá(c tiếng Việt mới theo chủ trương của Giáo Sư Dương Đức Nhự (thí dụ: dùng chữ "i" thay chữ "y" khi đúng đắn, theo âm và nghĩa).

Thay lời tựa:

Tôi yêu lắm cái linh hồn,
Gọi là tinh thần luân lý giáo khoa thư
Vất vưởng theo bước chân người Việt Nam tị nạn
Tôi luôn tìm chỗ nương náu
Cho cái linh hồn mờ phai ấy
Trong xã hội nhiễu nhương này
Hôm qua, hôm nay, ngày mai, và nhiều ngày sau nữa.
Tôi đã bắt đầu và tiếp tục cuộc hành trình.
Vào nước Mỹ thênh thang
Tôi đi,
Nương theo linh hồn luân lí giáo khoa thư của Việt Nam nhỏ bé
Đi mà nhớ mãi,
Tiếng đàn của một ông giáo,
Ôi tiếng Phong Cầm của Bố Tôi.


Tên tôi là Dương Thị Như Hoài An. Ở Mĩ tôi mang tên Ann Dương. Tôi là con gái một ông giáo dạy văn chương, sinh ngữ. Bố tôi là một người tị nạn Việt Nam. Ông dạy học suốt đời. Sang Mĩ từ năm 1975, bố tôi may mắn hơn nhiều bạn hữu của ông: ông được tiếp tục nghề dạy học. Người Mĩ gọi bố tôi là Dr. Dương.
Tôi không phải là một nhà giáo. Tôi là một chuyên viên kinh tài thị trường chứng khoán. Tôi có tiền bạc sung túc hơn bố tôi, vì tôi không chọn nghề dạy học, dù rằng thời thơ ấu ở Huế, tôi đã từng ôm mộng trở thành giáo sư dạy dương cầm. Năm tôi sáu tuổi, bố tôi để tôi lên yên sau chiếc xe đạp của ông, rồi ông gò người đạp xe đến trường Jeanne d Arc, Huế. Ông phó thác tôi cho Sơ Thanh Tâm Fred Pierre. Bà là người dạy tôi đặt ngón tay lên phím trắng dương cầm lần đầu tiên.
Chiếc xe đạp, thân người mảnh khảnh, cặp kính cận của bố tiô, những vòng bánh xe quay trên con đường im vắng của thành phố Huế, và những phím trắng dương cầm, tất cả trở thành những hình ảnh mờ nhạt khi tôi mạnh dạn xách cặp da đi vào trụ sở Goldman Sachs (*) ở Nữu Ước. Từ đó, tôi quên những con đường im vắng của Huế xưa cũ, quên những phím trắng dương cầm, và quên luôn đời sống của bố mẹ tôi, nhất là của bố tôi, một nhà giáo Việt Nam lưu vong tị nạn. Trong những đêm Nữu Ước sáng rực ánh đèn, tôi ngồi trong văn phòng, đối diện cái máy vi tính, thoáng nghĩ đến bố mẹ tôi. Rồi vội vã kết luận: chắc là bố mẹ tôi vẫn bình an, sau đó lại tiếp tục dán mắt vào cái máy vi tính.
*
Tôi không biết bố mẹ tôi sống như thế nào, nói chi đến việc hiểu được sự mất mát của bố tôi... cho đến ngày tôi từ giã Goldman Sachs để về miền Nam sống bên cạnh bố mẹ. Tôi trở về với bố mẹ vì đã mệt mỏi với nghề nghiệp của mình. Tôi muốn đi tìm phím trắng dương cầm của thời thơ ấụ.
Và trong khi đi tìm phím trắng dương cầm cho mình, tôi bắt gặp, từ quá khứ im lìm, những mảnh đời của bố mẹ tôi...
*


Suốt những năm ở Mĩ, bố tôi làm nghề viết curriculum cho một quận học chánh ở Texas. Viết xong curriculum, ông đem bài vào lớp thực nghiệm cho lũ trẻ con không nói tiếng Anh là tiếng mẹ đẻ, trong những ngôi trường thị tứ (urban) cho con nhà nghèo, rồi ông phải bênh vực bài giảng của mình soạn ra, trước những con mắt phê bình của những nhà giáo dục tiểu bang, đa số là những con người chưa từng bước chân ra khỏi vòng đai tiểu bang Texas, nói giọng eo éo theo cái lối miền Nam. Qua bao nhiêu kiểm điểm, phê bình, bài của bố tôi mới được in ra, trở thành bài học căn bản cho lũ trẻ con nói hai thứ tiếng.
Bao năm nay bố tôi sinh sống bằng nghề dạy học. Ngày lại ngày, sáng nào bố tôi cũng dậy từ năm giờ. Mẹ tôi dậy theo. Mẹ tôi để vào cái túi giấy dầu một cái bánh mì chả lụa, một trái chuối, và một lon sữa đậu nành. Đó là bữa ăn trưa của bố tôi. Sáu giờ sáng bố tôi ra khỏi nhà, cầm theo cái túi giấy dầu, và tài liệu dạy học nằm trong cái cặp da càng ngày càng cũ. (Tính bố tôi ưa sưu tầm, lưu trữ, không thích vứt bỏ cái gì cả. Ông khư khư giữ tất cả những gì ông đã sắm để rồi...tôi biết một ngày kia tất cả sẽ tan biến đi, như lần di tản 1975).
Mẹ tôi than với tôi: “Cha con chán nghề dạy học rồi. Ông chỉ mong về hưu để sang Cali với bạn bè và học trò cũ. Về hưu rồi thì tha hồ mà tán gẫu ở tòa báo Người Việt với Người Chàm, Thế Hệ Hai Mươi với Thế Kỷ Hai Mốt...”
Trong căn bếp hẹp, mẹ tôi sửa soạn túi giấy ăn trưa cho chồng. Tôi nghĩ, chắc bố tôi chán nghề dạy học thật. Khi cầm cặp với túi thức ăn đi ra cửa, mặt ông chảy dài có vẻ đau khổ, đôi mày ông cau lại. Tôi đi làm cho Goldman Sachs có nhiều lúc cũng chán ngán như thế. Quanh đi quẩn lại, hai mươi năm trôi qua, tôi bàng hoàng nhận ra là mười ngón tay mình đã phụ bạc phím dương cầm. Nên tôi đã từ bỏ tiền lương sáu con số mà "lang thang giữa đời ối a biết đâu nguồn cội.” Tôi đi làm, bước chân vào văn phòng với chiếc ví Chanel, với nước hoa và phấn son thơm ngát, còn bố tôi bước chân ra cửa, trĩu nặng trên vai cái nếp sống đơn bạc của nghề giáo. Với tôi, chiếc ví Chanel, nước hoa và son phấn trở thành niềm an ủi, còn bố tôi lấy gì làm an ủi? Nhìn bố tôi chậm chạp trong bếp, tôi mủi lòng. Đời tôi đã có nhiều ngậm ngùi, từ công danh cho đến tình duyên. Bây giờ, trong tuổi già của bố mẹ tôi, hình như tôi phải cưu mang thêm nỗi ngậm ngùi của họ. Tôi chạy vào phòng tìm cái túi Lancôme cũ đưa cho bố tôi để ông làm túi đựng đồ ăn trưa. Tôi nói: "Cho nó lịch sự, bền bỉ hơn một chút, bố ạ."
Từ hôm đó, mỗi sáng bố tôi rời nhà với chiếc cặp da cũ, thêm cái túi Lancôme đựng đồ ăn rất “ốp a” của cô con gái thay thế cái túi giấy dầu. Ông nói với mẹ tôi: “Cái túi Lancôme chắc chắn không bị rách vì lon sữa đậu nành như cái túi giấy dầu.” Mặt ông nom nghiêm trọng như thể đang nói chuyện tương lai nước Việt Nam. Mẹ tôi thì chê cái túi Lancôme nom đàn bà quá.
Bố tôi dễ thương ở chỗ ông lập dị một cách vô tư lự. Thí dụ ông soi gương cắt tóc lấỵ. Có lần, tóc méo một bên không giống ai, ông vẫn tỉnh bơ, tuyên bố, “Hà tiện đồng nào hay đồng ấỵ.” Thế nhưng bố tôi lại rất hồ hởi đi mua tranh của ông họa sĩ Đinh Cường về treo trong nhà làm cảnh.
Khi ông rời nhà, mang theo cái cặp và cái túi, tôi đứng nhìn theo ông, tự hỏi trong cuộc đời nhà giáo, ông lấy gì làm an ủi, thay thế vị trí cái ví Chanel trong cuộc đời Goldman Sachs của tôi?
Nếu bố tôi không thích dạy học nữa, tại sao ông vẫn gương mẫu hơn bất cứ một công dân gương mẫu nào của Mĩ quốc nàỵ Ông phê bình chuyện tôi bỏ việc ở Goldman Sachs: “Nó trả con nhiều tiền thế, sao lại tự dưng xin thôi ?” Ông hay nhận định viec các em tôi và dâu rể có tật làm việc đi trễ về sớm theo ngôn ngữ Bắc Kì: "Chúng mày lạ quá, tao chẳng bao giờ đi làm trễ. Mĩ nó đúng giờ giấc lắm, đi trễ về sớm như chúng mày là bậy, bậy, bậy lắm” Em trai tôi cười trừ, nheo mắt, “Yes, Sir.” Em gái tôi thì nhỏ to: "Bố không muốn bê bối vì bố...sợ tụi nó! Bố mặc cảm Việt Nam quá trời!"
Như một cái đồng hồ báo thức, trong mười tám năm, cứ sáu giờ sáng là bố tôi rời nhà với cặp da túi giấỵ. Bảy giờ sáng là bố tôi đã có mặt tại trường. Trừ khi đau ốm, ông không hề nghỉ một ngàỵ. Nếu quả tình dạy học ở Mĩ là khổ thì khả năng chịu đựng của ông thuộc hạng... siêu! Ngày nào cũng như ngày ấy, sách cặp da túi giấy trong mười tám năm!
***
Tôi vô tâm không hiểu tại sao bố tôi đi làm với nét mặt đau khổ. Tôi cho là bố tôi đã được voi, còn muốn đòi tiên.
Cho đến một hôm...
Không còn đeo gánh nặng của Goldmans Sachs trên vai, tôi có thì giờ theo bố tôi đến lớp học một ngôi trường thị tứ...Bắt đầu bằng sự tò mò của một đứa con, tôi trở thành nhân chứng một ngày trong đời của bố tôi, để bàng hoàng nhận ra sự mất mát của thế hệ lưu vong đi trước. Bố tôi đứng, cũng phấn trắng bảng đen, ông hò hét không lại lũ trẻ con ngỗ nghịch, đen, trắng, vàng, Mễ có, Việt có, Tầu có. Ông đứng cô độc, già nua, nhỏ bé trong cái lớp học tồi tàn.
Ngày hôm ấy tôi nhận thức được sự đau khổ của một nhà giáo Viêt Nam ở Mĩ ! Đây không phải là trường Trần Quý Cáp với những người học trò Quảng Nam tình nghĩa, tự biết cúi đầu khoanh tay, yêu thương thầy cô cho đến 30 năm sau không phai nhạt. Đây không phải là Đại học Vạn Hạnh của một xứ sở Phật giáo mà hình ảnh từ bi của Như Lai hòa nhập với con đường đi tìm kiến thức. Bố tôi không còn là ông giáo mảnh khảnh mang kính cận giảng dậy văn chương Anh cho sinh viên. Từ Merchant of Venice cho đến A Farewell to Arms. Ông không còn say sưa dạy dịch Việt-Anh thế nào cho hay, từ Dọc Đường của Thanh Tâm Tuyền đến Mai Thảo, Những Vì sao của Diệu. Ông đứng trước bảng đen lạc lõng, cầm những tấm bích chương ông viết tay, nắn nót, danh từ, tĩnh từ, theo mấy cái phương pháp lẻ tẻ của giáo dục song ngữ (billingual education). Tóc ông bắt đầu thưa. Mắt ông lờ đờ sau cặp kính. Hai má xệ xuống theo tuổi già. Ông đứng đó, nhưng cũng vẫn phấn trắng bảng đen. Phấn trắng, bảng đen đeo đuổi ông cho đến hết cuộc đời.
Có một đứa trẻ người Mễ, khoảng 14 tuổi, khi không nổi hứng thổi cái kẹo cao su vào bố tôi, chiếc bong bóng bay ngang không khí, “đậu” lại trên sân bay là cuốn sổ tay của bố tôi. Đứa trẻ la lên:
--“Dr. Dương!”

Friday, January 25, 2013

THE THREE CHILDREN OF A VIETNAMESE SCHOOLTEACHER

EXCERPTS FROM FICTION Trích từ truyện sáng tạo: 

NOTE FROM THE BLOG:  The following is the unedited manuscript of a chapter from the award-winning novel Mimi and Her Mirror, originally written as a short story. The chapter has since been edited for book format and final publication.  As a stand-alone short story, the piece poignantly reflects upon the parent-child relationship, the emotional bonds as well as the differences between the first and subsequent generations of Vietnamese immigrants in America.   
Truyện ngắn này trở thành một chương trong cuốn tiểu thuyết "Mimi va Tấm Gương Soi," được giải thưởng văn chương dda va(n ho'a tại Mỹ năm 2012. 
Truyện nga('n na`y nói lên nỗi ngậm ngùi của người di dân gốc Việt, tình cảm cha mẹ con cái trong khỏang cách văn hóa và sự chuyển tiếp giữa hai thế hệ.
***    
Houston, Texas
     the present    
           
The day is long in March and the hot and humid climate of Texas reinforces my self-indulgent illusion that sunshine will last forever. At six o’clock in the evening, the bright day has not died out, and the traffic of Westheimer street is gradually turning into a slow-moving bee-like stream.
The patrons of La Griglia parade in, all beaming with their bright eyes, the women lifting the corner of their mini-skirts, the men glancing at their gold watches underneath their grey coat sleeves. I am sitting at the bar, facing the front door, hiding my roving eyes behind the dark sunglasses so I can be free to become the people watcher of Houston. I rest my eyes on the mannequin face of some Texas beauty, who reminds me of an unkempt peacock, with her turquoise frilly dress and beehive of purplish red hair. I cast my eyes to the beer belly of some Texas oilman, well covered under his navy blue coat jacket glamorized with a row of bright gold buttons that match his bright gold cufflinks.  The Houston yuppies move leisurely to the front door from their shiny BMW convertibles and luxury Lexus’s, the alloy tire rims, leather seats, and customized license plates making the statement of success for their owners.
The primitive colors of LaGriglia’s southwestern artwork take me to Mexico’s green grass, brown earth, red sun, and the deep yellow grains of its corn tortillas.  Gorgeous twenty-year-old waiters and waitresses sing the exotic menu with twenty different kinds of salads while holding in their rosy hands baskets of hot bread wrapped in crisp white cloth, gliding them toward the tilting cups of glistening butter. Delicious oiled garlic and melted cheese fill the air, mixed with the slight intoxicating ferment of red and white wine, the tanginess of fresh tomato and tamarind sauces, and the rich floury smell of home-made pasta and corn tortilla.
I sniff into my lungs the smell of food and drinks yet my pallet remains immune to the seduction of the culinary art.  People turn robots through the lens of my sunglasses until the familiar gait of an Asian male appears at the door in his khaki pants and denim shirt.  I raise a finger and he sees me immediately, the familiar broad grin pulls his full lips upward and puts wrinkles on the bridge of his elegant nose, harmonizing with the unconscious raising of his dark brows. I recognize the trademark boyish grin of my brother. That part of him has not changed and perhaps will never change. In my mind the boyish grin becomes the link between the man and his childhood.  Now perhaps he has gained a little weight around his waistline.  Perhaps his thick shining black hair has thinned out a little.  Perhaps his grin is only boyish in my mind.   Pi is a man now and he acts like a man.  I slip down from the bar stool and he places one arm around me, a head taller than the top of my teased hair. His embrace is that of a grownup, more of an influence from his Americanism than the French elementary school Aurore of his Vietnamese childhood. 
There is nothing traditional Vietnamese about Pi’s embrace.  In the old days, Vietnamese boys did not embrace their big sisters.  Then, big sisters were treated like mothers, revered and bowed to, from whom sacrifice was given and directions taken for the sake of the family. Now in stylish La Griglia, Pi can be mistaken for my boyfriend showing up for our early evening date. And he is embracing me.
“Hello, Mimi,” he calls me by my American name, “looking good, sis,” he says.   He is speaking English without an accent and we are meeting in LaGriglia, where we act like Texas yuppies, instead of some Pho noodle shop in the Vietnamese neighborhood of midtown Houston, where we suck in those long, flat, tasty noodles while our bamboo chopsticks dip and stir in the meaty broth sprinkled with chopped green chives and coriander.

Thursday, January 24, 2013

VIETNAMESE TRANSLATION FOR "THE GHOST OF HA-TAY" -- BÓNG MA HÀ TÂY BA?N DI.CH VIE^.T NGU~


Hình ảnh
#1
DƯƠNG NHƯ NGUYỆN 
Chuyển ngữ: Linh-Chân Brown, Ph.D. Linguistics, University of Colorado

SOURCE: vietbang.com

LỜI CHÚ THÍCH CỦA BLOG:  Truyện ngắn của Uyên Nicole Dương (Dương Như Nguyện) đã được Ban tổ chức Ðại hội Kịch Ảnh Moondance Festival 2001 chọn vào chung kết giải thưởng Columbine về truyện ngắn, loại bi kịch siêu thực.  Sẽ được xuất bản trong tập truyện "Của Bảy Giấc Mộng" (RobbieDean Press Independent Publishing 2013).

Cách dùng dấu ngoặc kép để kể câu truyện lồng trong câu truyện (story within a story) hoặc lời đối thọai lồng trong lời đối thọai (dialogue within dialogue) và cách xuống hàng của từng đọan văn (paragraphs) trên bản lưu hành qua mạng lưới này không đúng tiêu chuẩn ấn lóat cũng như văn phạm. Tuy nhiên chúng tôi không thể sửa đổi trên mạng lưới. Ne^n do.c truyện đọc theo tiêu chuẩn nội dung, mô tả, văn phong và cú pháp cũng như cách hành văn mà thôi. Xin quý vị tham chiếu bản tiếng Anh và niệm tình tha thứ.

* Kính dâng hương hồn cô tôi
DNN

"Ông hãy cho tôi biết về cô ta," một giọng nói lơ lớ tiêu biểu cho người Âu châu, vang lên lạc lõng trong căn phòng làm việc tồi tàn sặc mùi hương khói của tôi tại khu downtown thành phố Houston. Tôi đang chống khuỷu tay lên chiếc bàn gỗ cũ rích, thân hình thước sáu không có gì đặc biệt gò lên mặt bàn, người đàn ông da trắng cao lênh khênh đưa cho tôi một tấm danh thiếp mang dấu vết của những cuộc hành trình khó nhọc, khác xa với những chuyến du lịch bằng các chuyến bay quốc tế hạng nhất. Tấm thiếp làm tôi nghĩ đến những chuyến tầu ồn ào, chạy uể oải, những chuyến xe lục tỉnh bò xuyên qua các nẻo đường vùng Ðông Nam Á, với những dãy ghế gỗ chở người cùng gà vịt lúc nhúc, thỉnh thoảng chuyến xe lại dừng tại các bến xe dọc đường chen chúc những người bán hàng rong giơ những chiếc bánh đa bụi bậm lên mời chào những khuôn mặt mệt mỏi của hành khách.

Tôi liếc qua những dòng chữ in đậm tưởng sẽ đọc biết danh tính của người khách bất ngờ, nhưng trên tấm thiệp lại là tên một người đàn bà:

Jasmine Khai
Coudert Brothers
Paris, London, Milan, New York City

Tôi nhận ra tên của một hãng luật sư quốc tế, cái tên làm cho tôi nhớ lại những ngày còn đi học ở trường Ðại Học Sài Gòn vào đầu thập niên 70, ngày mà tôi được chính phủ chú ý nhiều và ghi vào sổ đen, coi như một sinh viên phản chiến, trốn động viên, và viết báo chống chính phủ. Hồi đó, tôi có nghe tới một hãng luật sư lâu đời nhất tại Hoa Kỳ, nhưng được thành lập tại Pháp, hãng này chuyên phái luật sư tới Sài Gòn để cung cấp các dịch vụ cần thiết cho những việc có liên quan tới người Mỹ - từ việc nhận nuôi các trẻ mồ côi vì chiến tranh đến việc mua bán vật liệu và thuê mướn nhân công cho các hãng thầu của bộ quốc phòng.

Tôi nhìn sâu vào cặp mắt xanh ẩn dưới hàng mi dài, và nghĩ tới biển Ðịa Trung Hải nơi mà ngày còn nhỏ ở Việt Nam tôi đã có lần mơ thấy. Người đàn ông chỉ độ 35 tuổi là cùng, quai hàm vuông vắn, đẹp mạnh dạn, vẻ đẹp của hắn Làm tôi liên tưởng tới những minh tinh màn bạc Pháp sống trong những lâu đài vùng Loire, biểu hiện cho những cuộc viễn du qua những miền Âu Châu cổ kính trong những giấc mộng trẻ thơ của tôi.Những ngày đó tôi cũng đã mơ tới dòng sông Seine loáng nắng vào một buổi sang mùa thu, khi những chiếc lá vàng và đỏ lơ lửng nhẩy múa trên không trung theo điệu nhạc rộn rang của Berlioz.

“Anh chắc phải thuộc về típ người của St. Exupery và Hoàng Tử nhỏ,” tôi nói.

Hắn khựng lại một phút, nhăn mặt, có lẽ ngạc nhiên thực sự, trước khi gật gù mái tóc vàng dợn sóng. Trước mắt tôi là cặp mắt ướt át, đầy nhiệt huyết, ngây thơ, cặp mắt của Hoàng Tử Nhỏ nay đã thành người lớn, dỏng cao, già dặn hơn mớ tuổi 35, mà vẫn còn đi tìm một bông hồng quý. Bông hồng có tên là Jasmine Khai.

Hắn tự giới thiệu là Jean Paul Lambert, trước làm cho cơ quan truyền thồng Pháp Agence France Presse. Tôi hãnh diện tự coi mình cũng là đồng loại với đám người này - giới báo chí.

“Chắc ông phải biết cô ta chứ,” hắn nói giọng như van lơn.
“Cô ta có nói là ngày trước cô ta sống ở đây, và sẽ chắc chắn trở lại.”

Hắn không quên mục đích chính về chuyến đi của hắn. Ðây là một người đàn ông đi tìm người đàn bà của hắn trong tuyệt vọng. Trong khoảnh khắc, tất cả những ranh giới chia cách hai nền văn hóa đều bị sụp đổ, và tôi nhìn thấy trên khuôn mặt hắn tất cả những khuôn mặt của những người đàn ông Việt Nam đã đến với tôi mong tìm lại được bạn gái hoặc người yêu của họ. Họ đều có nét giống nhau, sự tuyệt vọng mang nặng trên khuôn mặt, và trong tâm hồn của những người đang yêu.

Tôi chộp tấm danh thiếp bằng những gì còn lại của bàn tay phải, đúng ba ngón chuối ngự. Hai ngón tay đã mất vì đem cúng cho giấc mộng Hoa kỳ, tôi vẫn tự khoe về những kỷ niệm của những ngày đầu tiên trở thành di dân của tôi. Từ trại tỵ nạn, tôi tới thẳng Houston, làm đồ tể cho một lò sát sinh. Sự hiểm nguy của nghề nghiệp đưa đẩy tôi tới một kỷ niệm thích thú về một người luật sư chuyên đuổi theo xe cứu thương - người da trắng đầu tiên tôi quen biết từ khi sang Mỹ, người đã khuyên tôi nên bỏ việc nhận bồi hoàn lao động để đổi lấy một vụ kiện đem lại cho tôi một số tiền đủ để mở văn phòng làm việc. Phòng làm việc của tôi là giá cả của hai ngón tay bị cắt cụt.

Tôi chờ người khách trẻ hỏi chuyện về hai ngón tay cụt, nhưng không thấy hắn đả động gì tới chuyện đó. Hắn cựa quậy bồn chồn trên ghế, hoàn toàn không để ý tới câu khơi chuyện đã thành nhãn hiệu của tôi – câu chuyện về những ngón tay chuối ngự mất tích của cậu Mười. Thật đúng là một con người đang ngụp lặn trong biển yêu, không để ý tới sự việc chung quanh mình.

THE GHOST OF HÀ TÂY THE ORIGINAL ENGLISH TEXT Bóng Ma Hà Tây nguyên tác tiếng Anh

(Dedicated to the soul of my aunt)

 NOTE FROM THE BLOG:  
“The Ghost of Ha-Tay” was selected at the 2001 Moondance Film Festival (held in Boulder, Colorado) as finalist for the Columbine Award, short story (surrealist drama) category. The Columbine Award features short stories that can be adapted to film, addressing topics that promote global understanding of human rights development.  Specifically, words selected for the Columbine Award reflect non-violent conflict resolution -- alternatives to violence -- or shows why violent resolution to conflict is counter-productive in the development of human rights.
      This short story will be part of a collection of creative writing recommended as a textbook for Vietnamese Studies, to be published by RobbieDean Press, an independent publisher, in 2003
 ***
--“TELL ME ABOUT HER,” HE SAID, ROLLING THE “R” OF THE LAST word, the refined European accent alienating him from the chipped, nineteen seventy-ish furniture of my incense-filled, run-down workshop in mid-town Houston.  I was pressing my elbows onto my humble veneer desktop, hunching my shapeless five foot three body over it, when the towering tall white man handed me the rumpled, stained name card that spoke of the long journeys and hard trips so different from the first class cabin of international airlines.  I thought, instead, of slow, sleepy trains and noisy, rusty buses crawling across Southeast Asia, carrying inside them compartments and wooden benches where people and chickens competed for the same narrow space, stopping along rest stations where peddlers waved dusty, crusty white rice cakes in the haggard face of tired passengers.  
I glanced at the black bold typeface that was supposed to identify my unexpected visitor  and found, instead, the name of a woman:
Jasmine Khai
Coudert Brothers
Paris. London. Milan. New York City.
I recognized the name of the international law firm, which brought me back to my days at the University of Saigon in the early 70s, when I was once famous enough to be blacklisted by the government as an anti-war student, draft evader, and anti-government columnist. Back then, I had heard of the French-founded, oldest law firm in America, which sent its lawyers to Saigon to serve the needs of American businesses -- from the international adoption of war orphans to the acquisition of supplies and materials and the hiring of local labor for defense contractors.   
I looked into the deep blue eyes underneath curly lashes and thought of the Mediterranean Sea I once dreamt of as a boy growing up in Vietnam.  The square angle of the jaw line spelled beauty on a man not more than thirty five years of age, reminding me of all those French movie stars who lived in Loire castles and symbolized my childhood fantasies about travelling to old Europe.  Those days, I had dreamt, too, of the gleaming body of the Seine on one autumn day, when yellow and red leaves flew in the air, dancing to the vibrant music of Berlioz. 
“St. Exupery and His Little Prince, that is your type,” I said.  For a moment, he frowned, perhaps genuinely surprised, before nodding his curly blond head. I saw before me the ardent, innocent, and watery eyes of the grown up version of the Little Prince, tall and lanky, already aging and tired of life at 35, yet still looking for his rose.  One Jasmine Khai.

Monday, December 31, 2012

EXCERPT FROM "MIMI AND HER MIRROR" - TRÍCH TỪ TIỂU THUYẾT "MIMI VÀ TẤM GƯƠNG SOI "

EXCERPTS FROM FICTION Trích từ truyện sáng tạo



MIMI AND HER MIRROR
MIMI VÀ TẤM GƯƠNG SOI

Chapter Two:  Her Nine Words
Vietnamese translation:
CHÍN CHỮ CỦA NÀNG

Dương Như Nguyện
Bản dịch của G.S. Dương Đức Nhự

copyright 2000, 2005, 2013
Trích từ truyện ngắn đầu trong tuyển tập truyện ngắn cùng tên, Chín Chữ của Nàng (Văn Mới: 2005). Truyện cũng là một chương trong tiểu thuyết tiếng Anh Mimi and Her Mirror của Dương Như Nguyện (AmazonEncore, 06.2011) như truyện tiếp nối (sequel) của Daughters of the River Huong (Con Gái của Sông Hương.  
Bản dịch này dùng cách đánh vần mới, đề nghị của dịch giả G.S. Dương Đức Nhự. 

Mùa xuân 2012, tiểu thuyết Mimi and Her Mirror được giải nhất cuộc thi International Book Awards tổ chức ở Los Angeles.





Mùa thu 1976, Hội Sinh Viên Việt Nam tại Southern Illinois State University (SISU) tức Đại Học Nam Illinois có chừng hai chục hội viên. Đa số học ngành kĩ sư hoặc kế toán, và có học bổng từ hồi mới sang Mĩ trước 75. Sau khi Sài Gòn sụp đổ, phải cần cả một năm trời để họ điều chỉnh tình trạng di trú, thay đổi chương trình tài trợ sinh viên, ổn định tinh thần và tiếp tục đời sống. Lúc đầu không ai để ý, nhưng dần dần trong Hội ai cũng biết chuyện Chàng Khùng. Như một đạo sĩ kì dị, hắn thiết lập bản doanh tại hành lang tòa nhà Krost Hall, nằm giữa Trung Tâm Sinh Viên và Tòa Nhà Hành Chánh Woody. Hắn ngồi trên một tấm chăn, nhiều khi hắn đứng, khua chân múa tay và lẩm bẩm một mình. Quanh hắn là những truyền đơn và quảng cáo về tự do, dân chủ trong khối Thế Giới Thứ Ba.

EXCERPT FROM "POSTCARDS FROM NAM" Trích từ truyện (novella) "BƯU THIẾP CỦA NAM"

EXCERPT FROM FICTION: Trích từ truyện sáng tạo

POSTCARDS FROM NAM
Chapter 8 -- The refuge of art

Page 87-89 (ISBN-13 978161180182 AmazonEncore 2011)


BƯU THIẾP CỦA NAM
Dịch giả: GS Nguyễn Thị Thanh Tâm 
(Đoàn Khoách Thanh Tâm)
Trang 91 (Văn Mới 2010)

EXCERPT FROM DAUGHTERS OF THE RIVER HUONG Trích từ truyện sáng tạo

FROM PART THREE OF 
DAUGHTERS OF THE RIVER HUONG

CHAPTER FOUR
A WAY HOMEWARD 

Đang hoàn chỉnh