ABOUT THE THREE BLOOMS OF NARCISSUS ba nu. thuy? tie^n...


In her private world -- the world of a self-taught artist, the three blooms of narcissus reminded her of three Vietnamese school girls before 1975, sweet and innocent. All in pastel colors, like that touch of nostalgia...Trong thế giới riêng tư của cô — thế giới tự học, có ba đóa tiểu thủy tiên (narcissus). Đây là loài hoa tôi rất ưa thích vì cái mộc mạc dịu dàng và nhỏ bé của nó. Ba bông thủy tiên này...Những bông hoa thanh tao bé nhỏ này làm cô nhớ đến hình ảnh ba nữ sinh Việt Nam quấn quýt bên nhau trước 1975. Màu trắng tinh khiết ẩn chút xanh xanh mơ màng hắt lên từ lá, nhụy hoa màu vàng anh tươi mà nhã, xen giữa những cọng lá dài và xanh — có cọng vươn thẳng đầy nhựa sống, có cọng ẻo lả nghich ngợm. Tất cả là màu sắc mềm của phấn tiên...

Friday, January 4, 2013

CONVERSATION WITH VAN MAGAZINE: CHOSEN NAME FOR A NOVEL -- NGUYỄN XUÂN HOÀNG TRÒ CHUYỆN VỚI TÁC GIẢ "DAUGHTERS OF THE RIVER HUONG"

INTERVIEWS Phỏng vấn 

PHỎNG VẤN DƯƠNG NHƯ NGUYỆN,
THỰC HIỆN BỞI NGUYỄN XUÂN HOÀNG CHO TẠP CHÍ VĂN, 2005

Source of first publication: http://vanmagazine.saigonline.com/HTML-N/NguyenXuanHoangST/STNguyenXuanHoang200507.php

Có lẽ người đọc Việt hải ngoại không xa lạ gì với tác giả Dương Như Nguyện qua những truyện ngắn của cô trên các tạp chí văn học tại Hoa Kỳ những năm 90. Năm 1999 nhà xuất bản Văn Nghệ [California] ấn hành cuốn Mùi Hương Quế của cô, và năm nay, 2005, Dương Như Nguyện cùng lúc vừa cho phát hành cuốn Chín Chữ Của Nàng [nxb Văn Mới, California], đồng thời với cuốn Daughters of the River Huong -a Vietnamese royal concubine and her descendants, Uyen Nicole Duong (Dương Như Nguyện). Bià do Tom Suzuki trình bày, RavensYard xuấtbản, sách dày 271 pages, SRP $17.95. Địa chỉ: RavensYard Publishing, Ltd. P.O. Box 176, Oakton, VA 22123 USA, www.ravensyard.com

Lâu lắm, dễ chừng 15 năm nay, tôi không gặp Dương Như Nguyện. Tôi nhớ khoảng năm 89, 90 gì đó tạp chí Văn Học của Nguyễn Mộng Giác đăng truyện Những Cỗ Quan Tài của Tịnh Tâm của một tác giả lần đầu tiên mà tôi được đọc: Dương Như Nguyện, và lập tức truyện của cô gây trong tôi một xúc động mạnh. Sao có thể có người viết nồng nàn đến thế. Không khí trong truyện tưởng là thư thả mà dồn dập, lạnh lùng mà nóng bỏng, và đẩy người đọc phải chạy theo tác giả mệt nghỉ. Như trong âm nhạc, có những dấu lặng, bỗng nhiên người đọc không thấy truyện của cô xuất hiện trên các tạp chí văn học Việt ngữ nữa. Cho đến năm 1999, người ta bỗng thấy trên kệ các nhà sách cuốn Mùi Hương Quế của cô. Dương Như Nguyện đã trở lại. Và sau đó là một khoảng lặng nữa. Sáu năm sau, 2005, các nhà xuất bản đồng lúc in hai tác phẩm của cô: Chín Chữ Của Nàng [Văn Mới] và Daughters of the River Huong [DORH] [RavensYard]. Đó chưa kể cũng trong năm nay cô sẽ cho in tiếp liền Con Gái của Sông Hương bản dịch Việt ngữ của Linh Chấn Brown.

Dương Như Nguyện cho biết cuốn DORH là một tiểu thuyết viết ở ngôi thứ nhất theo thể “ memoir” (hồi ký). Và cô nhấn mạnh, “ vì đây là tiểu thuyết- hồi ký có nghĩa là hồi ký của nhân vật, chứ không phải hồi ký của tôi.” Cô không muốn người đọc ngộ nhận giữa tác giả và nhân vật.


Poster--Daughters of the River Huong copyright 2005

Ơ bià lưng cuốn sách, dưới dòng tít: Love & War /Tình Yêu & Chiến Tranh, người ta đọc được câu : “Truyện tình giữa André và Simone Mỵ Uyên tượng trưng cho cái chết của đặc tính lãng mạn của nền văn hoá Pháp ở thuộc địa, cộng thêm sự mở cửa của một nước Việt Nam bị tàn phá vì chiến tranh, phải đón trào lưu canh tân mang tính cách lệ thuộc của kinh tế toàn cầu. Bức tranh ấn tượng này sẽ nhắc nhở độc giả tới những chuyện có tầm vóc bao quát của Gone with the Wind và The Thorn Birds (Cuốn Theo Chiều gió và Tiếng Chim Hót trong bụi Mận Gai), đượm thêm nhân bản tính và tình yêu sâu xa giữa mẹ và con của The Joy Luck Club.”

Cô nói “Câu này không phải là quan điểm của tôi. Việc so sánh tác phẩm của tôi với Gone with the Wind, Thorn Birds, hay Joy Luck Club là ý nghĩ của nhà xuất bản, để giải thích lý do tại sao họ muốn đầu tư vào tiểu thuyết của tôi sau khi đã đọc đã bản thảo. Cô cho biết cô có thói quen là trong tiến trình sáng tạo, không bao giờ viết để cho giống hay theo một khuôn mẫu của bất kỳ tác phẩm nổi tiếng nào. Viết là viết theo sự thôi thúc sáng tạo (artistic vision) của chính mình mà thôi. Bằng chứng là trước khi RavensYard đến với cô, bà Sandra Kjistra, đại diện cho Amy Tan và Stephen King, đã hối thúc cô viết lại tác phẩm này cho giống cuốn Memoir of a Geisha của Arthur Golden, thì bà ta mới nghĩ đến việc đem tác phẩm của cô đến với các nhà xuất bản danh tiếng của Hoa Kỳ. Thế nhưng Dương Như Nguyện đã bác bỏ đề nghị đó, cũng chỉ vì không muốn đi theo một khuôn mẫu khi viết về nguồn cội của mình.

Hỏi tại sao cô chọn River Huong mà không chọn Perfume River như một cách đẩy sách đến người đọc dòng chính, Dương Như Nguyện cho biết lúc đầu nhà xuất bản RavensYard đề nghị đặt tên cho tác phẩm là“Những Cánh Hồng Đen”, dựa trên mối tình trái cấm của nhân vật chính, một thiếu nữ chỉ mới 14, 15 tuổi, nhưng cô không bằng lòng, và cuối cùng quyết định để tác phẩm mang tên của dòng sông Hương.

Cô cho rằng Perfume River là danh xưng do người ngoại quốc dịch tên của dòng Hương Giang xứ Huế.

Theo cô, “Người Huế không ai gọi dòng sông lịch sử của quê hương mình là “dòng nước Hoa” cả. “Perfume” hay “parfum” là một kỹ nghệ buôn bán, một hình thức mỹ phẩm phù du bên ngoài, làm đẹp cho phụ nữ theo kiểu quyến rũ người khác phái, hoàn toàn có tính cách vật chất hời hợt, không phải là phẩm lượng bên trong. “Nước hoa” sẽ phai đi. “Mùi hương” trái lại có thể toả từ tiền kiếp, liên đới kiếp này sang kiếp khác, không gian này qua không gian khác, đi từ quá khư, ù hiện tại, và có thể chuyên chở vào tương lai, từ vô thức, tiềm thức, tới ý thức. Với mùi hương thật sự (authentic) như trong câu: “Hữu xạ tự nhiên hương” thì “hương” có thể trở thành bất diệt trong trí tưởng và tâm thức của người thưởng ngoạn.
“Hương còn là tiếng thơm, có thể toả ra từ đáy hồn là một luyến nhớ vào rừng kỷ niệm. Tiếng tăm (cái gì lưu lại) là sợi dây liên đới giữa sựphán đoán của lịch sử (external) với đạo đức cá nhân (intrinsic). Đạo đức ở đây có nghĩa là “universal truths” công cuộc đi tìm sự thực của người cầm bút, chứ không phải là kỷ cương của tôn giáo hay xã hội.

Chữ “hương” do đó mang ý nghĩa tâm linh nhiều hơn vật chất, phải dịch là “fragrance” trong trí tưởng, hoặc “good name” như trong “tiếng thơm muôn thuở”. “Hương” là một “motif” liên tục trong sáng tạo của tôi. Thí dụ Mùi Hương Quế. "Đó là tập truyện độc nhất tôi đem đến cho cộng đồng mình trong mười năm qua, hoàn toàn không có việc ra mắt sách, không có lời giới thiệu của ai, cũng không có bài phê bình nào, ngoại trừ bài của ông Đoàn Nhã Văn, một người tôi không hề biết, hình như cảm nhận được tâm thức của chữ “Hương” trong Mùi Hương Quế. Tôi chỉ mới đọc bài này ngày dạo gần đây.”

Dương Như Nguyện nói cô chủ trương đem bản chất văn hoá thực thụ của nguồn cội đến cho dòng chính, chứ cô không cần thiết phải bắt nhịp cầu cho dòng chính đến với nguồn cội của mình một cách dễ dànghơn. “Tôi chẳng cần phải dịch chữ ‘Hương’ như người Âu Tây đã dịch tên dòng sông quê ngoại! Nếu tôi gọi nó là ‘sông Hương’ thì độc giả của dòng chính cũng phải chịu khó viết và đọc chữ ‘Hương’ như tôi vậy thôi. Nếu tác phẩm gây được ảnh hưởng trong dòng chính, thì dòng chính sẽ biết đến tên ‘Hương’ (tiếng Việt) của dòng sông.”

Theo tác giả, đã đến lúc người nghệ sĩ sáng tạo phải viết lại hình ảnh sông Hương ngay trong lòng dân tộc, chứ đừng nói chi đến ngoài dân tộc. “Từ một lúc nào đó, sông Hương bị mang theo hình ảnh các cô gái‘ngủ đò’, nói về việc bán thân nuôi miệng của người phụ nữ. Đây là lý do khiến cô rất thận trọng trong việc chọn tên cho bản dịch. ‘Con Gái của Sông Hương’ để nói lên ý nghĩa liên hệ máu huyết, nguồn cội. Nếu sông Hương đã bị đồng hoá với việc ‘bán phấn buôn hương’ thì gọi nó là mỹ phẩm ‘parfum’ chỉ làm cho hình ảnh đó thêm độc địa mà thôi. Từ trước đến nay, người Việt mình cứ điềm nhiên mà chấp nhận những gì đã xảy ra, bình thường hoá ngay cả sự ẩu tả hoặc tiêu cực trong vấn đề ngôn từ và biểu tượng có liên quan đến dân tộc tính.” Cô giải thích.

Theo cô, "nói như vậy không có nghĩa là cô khinh bỉ những phụ nữ 'ngủ đò' theo ý nghĩa bình dân này. Tình tự dân tộc mà Nguyễn Du mang đến cho chúng ta bao thế kỷ nay là tiếng lòng của một kỹ nữ. Một kỹ nữ đã được bậc thức giả, đại nho tôn xưng là biểu tượng của chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài."

Và cô kêu gọi: Xin nam giới và phụ nữ chấm dứt vấn đề coi sông Hương là chốn “ngủ đò” theo ý nghĩa tiêu cực này. Rồi truyền tụng lẫn nhau một cách vô ý thức, trong một thời điểm mà du khách ngoại quốc đã và đang đổ xô vào Việt Nam, thời điểm mà phụ nữ Việt Nam cất tiếng kêu thương trên toàn thế giới.

Dương Như Nguyện nhắc, hãy nhớ đến cái chết của Trần Cao Vân và Thái Phiên trong ngục tối, trong những ngày dầu sôi lửa bỏng bên thềm của phong trào lật đổ thực dân (decolonization) đầu thế kỷ 20. Cậu bé trai 16 tuổi trên ngai vàng vô nghĩa, đã đi theo tiếng hò trên sông, lời kêu gọi của hai nhà nho trong ngày tàn của quân chủ và thể chế Khổng Mạnh. Vang vang trong tiếng hò lịch sử ấy là lòng thương xót cảnh khổ của người dân đen thấp cổ bé miệng, và trách nhiệm của người lãnhđạo. Đó không phải là luân lý giáo điều của Khổng Mạnh, mà là căn bản của đạo đức dân tộc. Trước bến Vân Lâu...Nghe câu Mái Đẩy chạnh lòng nước non! Đây mới đúng là chỗ đứng lịch sử của sông Hương.
Cô kết luận: “Why do we have to repeat the linguistic convention attached to our roots by outsiders? Just because someone from the West has called the river ‘Perfume’, do we, descendants of this river, must adhere to such terminology (thuật ngữ)? Make the West call it what we call it, Huong, in the native language. Isn’t that the by-product of the work of a Vietnamese American artist who injects her roots into the host country by simply pursuing her art? Đây chỉ là một thí dụ nhỏ để nói lên chiều hướng khai phóng.

As far as I am concerned, the superficial ‘Perfume’ connotation is out of my Song Huong. Out, for good! (Cô nói cô không biết phải dịch ý này ra tiếng Việt như thế nào, xin chấp nhận việc cô chêm những câu tiếng Anh để kết thúc câu trả lời).”
Thế hiện nay cô đang đọc tác giả nào, Dương Như Nguyện cho biết cô mới vừa đọc lại một số những tác phẩm bất hủ của văn học Nga, the classics, từ Tolstoy cho đến Dostoyevsky, ngay cả Solzhensitsyn của thời cận đại. “Dĩ nhiên là khi quay về classique,” cô nói, “tôi đọc lại luôn Boris Pasternak và Franz Kafka. (Nhân tiện tôi đọc lại cả Henrik Ibsen của Na Uy (the Master Builder) để suy gẫm, George Bernard Shaw (để nhận thức thêm một lần nữa rằng Shaw đã đi trước quá xa thời đại của ông sống khi ông viết về phụ nữ), và cả Theodore Dreiser (để nhắc lại cho mình nhớ thế nào là một cuốn tiểu thuyết Hoa Kỳ, the cliche — the American novel, thật sự đúng nghĩa là tiểu thuyết với tất cả tâm lý nhân vật, cường độ, và cao độ của nghệ thuật tiểu thuyết!)”

Cô cũng đọc lại các nhà văn Nga và Đông Âu trong giai doan này vì cô cho rằng cô mường tượng thấy hình như các tác giả này được truyền tụng trong giới trí thức thuộc “thế hệ của ông”. Cô muốn tìm hiểu về cách nhìn và nếp sống tâm linh của thế hệ này. Lý do? “Tôi muốn tạo dựng một nhân vật chính (protagonist) là một người đàn ông Việt Nam cùng thế hệ với ông, sống trong lòng nước Mỹ, cho bản thảo sắp tới, bản thảo mà tôi chưa bắt đầu.”

Dương Như Nguyện nói cô rất trọng classiques, vì classiques đã được minh chứng bởi thời gian. Tuy nhiên, khi đọc lại classiques, cô thấy rõ những gì đã lỗi thời về bút pháp bên cạnh tính chất vĩ đại trường cửu của classiques. “Tôi cố tình không chú ý đến những tác phẩm hiện đại đang bán chạy hay đang nổi tiếng, được giải này giải nọ, vân vân, để tránh khỏi bị ảnh hưởng hay chi phối bởi thị trường hay chính trị.”

Theo cô, việc đọc các tác phẩm nổi tiếng, đọc càng nhiều càng tốt. là đường lối giảng dạy viết văn của Âu tây. Đến một lúc nào đó, người sáng tác ngưng đọc hoàn toàn, và không còn bị ảnh hưởng, tìm tòi cái gì nữa hết. Chỉ đọc những gì cần cho việc sáng tác mà thôi. “Tôi đã đi vào giai đoạn này kể từ năm 1998, sau khi làm xong một hình thức ‘fellowshi’ về tương quan giữa luật học và văn chương ở Harvard.”
Hiện tại, cô chỉ đọc những cuốn sách không nổi tiếng, mà cô lạicho rằng rất hay. “Đọc để thưởng thức, và đọc để tìm thấy chính mình.” Cô nói, “trong đó có cuốn The Sevigne Letters viết bởi một nhà văn trí thức không nổi tiếng: William Eisner, xuất bản bởi một nhà xuất bản boutique, chuyên về tiểu thuyết văn chương, hình như lúcnày không còn hoạt động thường trực nữa. Đây là tác phẩm hay nhất mà tôi đã đọc trong suốt một thời gian dài rất bứt rứt không tìm thấy đâu là tác phẩm ưng ý.” 

“Nếu một ngày nào đó, có một nhà văn rất trí thức sẽ đọc Sông Hương hoặc những tác phẩm khác của tôi, như tôi đã đọc The Sevigne Letters, thì tôi cho đó là mình đã thành công, dù là thành công trong bóng tối.”

Về câu hỏi: Cô có chịu ảnh hưởng bút pháp của tác gỉa nào không?, Dương Như Nguyện nói:

“Bút pháp Hoa Kỳ? Thưa không. Hoàn toàn không. Tôi còn chủ trương sẽ đem metaphor, simile (bút pháp ẩn dụ) của tiếng Việt vào văn chương Mỹ. Tôi đã từng bị một, hai ‘readers’ phê bình (đây là những readers tốt nghiệp khóa văn chương) cho là văn của tôi ‘unAmerican’ vì các metaphor lạ hoắc! Một vài người khác (thường thường là trong ngành báo chí) thì hết lòng bênh vực tôi, nói rằng tiếng Anh của tôi nổi bật lên một giọng nói (the voice) rất đặc biệt và authentic. Mainstream nghĩ thế nào? Khi chọn con đường đặt tác phẩm vào tay Ravensyard (vì họ yêu cầu) và không đi qua các trung gian vănchương ở Nữu Ước, tôi chẳng nghĩ đến việc sẽ có tên tác phẩm mình trên mục book review của tờ New York Times. Điều đó thật tình không quan trọng đối với tôi. Tôi càng lớn tuổi càng lý tưởng và lãng mạn: nếu Hương quả thật là Hương, thì không cần New York Times cũng tạo ra Hương; Hương tỏa trong bóng tối thì mới là hương đặc biệt. Hương đem bán thành perfume ở Gallerie LaFayette là hương mại bản.”
Còn bút pháp của tác giả Việt Nam trong các sáng tác tiếng Việt của cô thì sao? “Hoàn toàn không.” Cô tiếp, “tôi viết song ngữ; viết thẳng bằng tiếng Việt; tuy nhiên bây giờ thì ngưng hẳn và chú trọng hoàn toàn vào tiếng Anh.”

“Không bị ảnh hưởng,” cô thêm, “không có nghĩa là tôi không yêu thích một số tác giả nào đó.”
Cô cho biết cô thích Nabokov, vì ông là người độc nhất trong văn chương Tây Phương viết nhiều thứ tiếng cùng một lúc cũng như tiếngmẹ đẻ: Anh, Pháp, Nga. Ông thật sự là một nhà văn song ngữ, một nhà văn lưu vong với rất nhiều khuôn mặt.

Cô nói, khi viết tiếng Anh, cô không thể theo nổi ngòi bút trác tuyệt của Nabokov. “Không dám có tham vọng đó. Viết chỉ để mà viết. Tôi rất ghét những người viết với tham vọng - some sort of a ‘hidden agenda’ như cái thang để leo trèo. Tôi chỉ có thể là tôi. Never any hidden agenda in what I write. The heart is the heart, pen is pen, and art is art.”
Theo Dương Như Nguyện, trong thế giới văn chương tiếng Việt, không ai viết tiếng Việt theo kiểu “lanh chao” [chanh chua và linh động] xứ Huế, thâm thúy và trung thực về tâm lý và sự chua xót nhọc nhằn của phái nữ trong đời sống trung lưu ở miền Nam Việt Nam hay hơn nhà văn Túy Hồng. “Cho đến hôm nay, chưa ai viết một truyện ngắn nào làm tôi nhớ mãi cho bằng một truyện ngắn của Trùng Dương. Và tôi chưa thấy có nhà văn nữ nào ở hải ngoại đã vượt lên trên đànchị nói trên. Đó là theo tiêu chuẩn chủ quan của tôi, dựa trên những gì tôi đọc từ tủ sách của bố mẹ tôi, thời thơ ấu.”

Cô nhắc câu: “Đập cổ kính ra tìm lấy bóng, xếp tàn y lại để dành hơi...” và nói “Hơi ấy chắc chắn phải vương vấn mùi hương quyện lên y trang như một hoài niệm tinh thần về quá khứ, một sự quyến luyến tinh thần, mãi mãi không phai nhạt vì đã nằm trong trí tưởng, chứ không thể là mùi nước hoa Chanel hay Calvin Klein ở cửa tiệm được!”

Trả lời câu hỏi Cô nghĩ sao về văn chương trong nước, văn chương ngoài nước, chuyện “nhếch nhác” bên trong và chuyện “lão hoá” bên ngoài?, Dương Như Nguyện cho biết: “Tôi không dám nói về văn chương trong nước vì không đủ dữ kiện. Tuy nhiên, những gì tôi đã đọc, ngoài vài truyện ngắn của Nguyễân Huy Thiệp, chỉ đem đến cho tôi sự thất vọng. Câu hỏi được đặt ra, trong một môi trường thiếu tự do ngôn luận, làm thế nào cho văn chương khởi sắc? Văn chương chống đối, dissident, được đánh giá theo một số tiêu chuẩn dành riêng cho văn chương chống đối. Tiêu chuẩn ấy chưa hẳn là tiêu chuẩn văn chương.”

“Nhưng trên văn đàn Mỹ Quốc, tự do ngôn luận đầy dẫy, trong những thập niên gần đây, đã có sự khởi sắc nào chưa, dù rằng Toni Morrison đã đem giải Nobel văn chương về cho nước Mỹ? Nên có một sự phục hưng (renaissance) nào đó hay không, cho dù tờ New York Times sẽ không bao giờ công nhận nhu cầu phục hưng khi họ viết về những tác phẩm được xuất bản trong guồng máy lớn?” (Cô cho biết cô nói ‘guồng máy’ là vì cô dạy luật công ty, thương mại - cái gọi là luật thương trường của tư bản. Theo con mắt nhìn của một luật gia, cô cho rằng kỹ nghệ xuất bản của nước Mỹ bây giờ là một guồng máy thương mại rất lớn có tính cách ‘độc tôn’ (monopoly) của thể chế tư bản).
“Về văn chương hải ngoại, Vietnamese exile literature, tôi công nhận và đồng ý với ông, rằng ngọn đuốc phải chuyền đến tay người của thế hệ mới. Nhìn vào thế hệ mới, theo tôi, thì ngay cả những tác phẩm bestsellers, và ngay cả cá nhân tôi với sông Hương (với tất cả những hạn định vì tình huống riêng biệt của nó (limitations by circumstances), hầu như chưa có một chỗ đứng gì đáng kể trong phạm vi rộng lớn.

"Everything still remains to be seen. Con đường đi, dưới mắt tôi, là conđường thiên lý. Đường đi chưa đến.”

Nói về ‘lão hóa’ - Dương Như Nguyện hiểu theo một nghĩa khác của từ này* - cô gọi đó là chu trình chung của tất cả mọi sự việc. Cô nói “Trong lãnh vực văn chương, chưa chắc ‘lão hóa’ là điều đáng ,tiếc. (Nếu ‘lão hóa’ có nghĩa là ‘tuyệt tự’, không có ai để thắp tiếp ngọn đuốc, thì vâng, nên có tiếng chuông kêu cứu. Nhưng nếu thật sư đã ‘tuyệt tự’ thì có kêu cứu cũng không làm gì được. Nguy hiểm là ở sự ‘tuyệt tự,’ chứ không phải ở sự thật hiển nhiên: Lão Hóa.

“Văn chương cần tuổi tác và kinh nghiệm, giống như rượu ngon, giống như mỹ nhân tự cổ như danh tướng, càng nhiều tuổi càng sắc sảo (trong tiêu chuẩn gourmet, nếu thật sự là mỹ nhân, thì phải già đi mới đẹp. Nếu không tại sao người ta lại ví mỹ nhân với danh tướng? Có tướng nào trẻ măng mà có kinh nghiệm chiến trường đủ để trở thành danh tướng hay không, kể cả Napoleon và Alexandre? Thúy Kiều 16 làm sao thu hút cho bằng Thúy Kiều 35, khi mặt hồ thu đã long lanh ngấn lệ vì đường đời, và trái tim đã trưởng thành đủ để mang tình cầm sắc đổi ra cầm kỳ?”
Điều mà cô lo ngại hơn vấn đề ‘lão hóa’ là vấn đề ‘thoái hóa trong tiêu chuẩn’ (sub-standardization, chữ dùng của riêng cô). “Trong cộng đồng Việt Nam, hiện tượng này xảy ra, là trách nhiệm của những người cầm bút đi sau, và là trách nhiệm của độc giả. Của cộng đồngngười đọc. Điều này quá nan giải, vượt ra ngoài cuộc nói chuyện của chúng ta hôm nay, vì có liên quan đến vấn đề xã hội học của tình huống di dân.”

Cô nêu một thí dụ về cái mà cô gọi là ‘sub-standardization’.

“Cách đây mấy tháng, tôi được biết rằng tôi đã được xếp loại vào chung với một số phụ nữ viết văn tiếng Việt - viết về tình dục. Tôi xin khẳng định - tôi chưa bao giờ viết về tình dục cả. Tôi chỉ viết về kinh nghiệm làm người. Người nữ nồng nàn và người nữ nhọc nhằn. Và tôi cũng không lấy gì làm hãnh diện được chỗ đứng ‘tiền phong’ cho phong trào ‘viết về tình dục’ này.

“Trong việc phê bình văn học (một địa hạt quá thiếu vắng trong tình huống eo hẹp của kiếp di dân), dùng tiêu chuẩn gì đây để đánh gía hiện tượng này - cái gọi là ‘nhà văn Việt Nam viết về tình dục, nữ cũng như nam?’ Nếu nói rằng nhà văn nữ Việt Nam đi vào một thế giới mà trước kia là chỗ đứng của đàn ông, thì Anais Nin đã làm điều này từ thập niên 1930. Tại sao đàn bà Việt Nam bây giờ đi làm chuyện đó, chỉ để công nhận mình đã thụt lùi sau Anais Nin gần cả một thế kỷ?

“Artists write art. Artists write humanity. Thinkers write thoughts. Thinkers write social justice. Artists and thinkers do not write sexuality for the sake of sexuality. Nếu tình dục là một phần của kinh nghiệm nhân sinh, thì artists sẽ tả dục tình để đi tìm cái đẹp của nhân sinh và nhà tư tưởng sẽ mô tả dục tình để tranh đấu cho nhân sinh. Dục tình viết khơi khơi, gratuitously, là khởi điểm của mại bản, dùng ngay thân xác con người để làm shock effect, mà trong đó phụ nữ thường thường là bị bóc lột. Người luật gia nói rằng đây là mại bản appealing to the prurient interest. Không thể dùng realism để bào chữa cho chiều hướng mại bản này.

“Tình dục, realism, trong phạm vi tiểu thuyết, cần phải được authenticated trở thành một kinh nghiệm nhân sinh (tôi không biết phải dịch chữ ‘authenticated’ làm sao), Chu kỳ ‘authentication’ đó phải đặt trên kiến thức, trí tuệ, và sự ngậm ngùi suy gẫm về kiếp người — knowledge, experience, and then the necessary elaboration. Đi vào lãnh vực mô tả tình dục con người bằng trí tưởng tượng, và chạm cả vào phạm vi chuyên môn của tâm lý học và y học — có thể sẽ trở thành faux pas lớn nhất cho người tập cầm viết. Write only what you know! Đây là nguyên lý rõ rệt nhất cho trường dạy văn chương sáng tạo ở xứ này. Nếu không, viết về tình dục sẽ trở thành một sự trịch thượng, kệch cỡm và gượng ép. Có nhiều khi đi luôn vào cái mà độc giả có tầm vóc sẽ cho là ‘bad taste.’”

“Người cầm bút của thế hệ mới trực tiếp chịu trách nhiệm nếu sự trịch thượng, kệch cỡm và gượng ép này xảy ra trong cái được mệnh danh là ‘văn chương, văn học’ làm cho nó không còn là ‘văn chương, văn học’ nữa. Và như thế thì chẳng thà lão hóa còn hơn.”

Dương Như Nguyện nhấn mạnh: “Xin đừng hiểu lầm là tôi muốn phê bình những ‘nhà văn nữ’ của cộng đồng. Con đường viết là con đường riêng biệt của mọi người. Văn chương là cái gì còn lại của cái gì bị quên đi, bị bỏ đi, bởi người đọc (người đọc, chứ không phải là người đi mua trong thế giới mại bản).”

“Substandardization lại càng trầm trọng hơn nữa trong môi trường di dân, nơi mà người đọc ngày càng ít đi, và tình trạng ‘tự xuất bản’ gây nên một môi trường tàn khốc cho tiêu chuẩn.”
Cô cho biết cô yêu thích một vài tác phẩm của Vũ Khắc Khoan và Nghiêm Xuân Hồng, cũng như trường thiên tiểu thuyết cuối cùng của Nhất Linh trước khi ông mất – “cuốn tiểu thuyết đó mới thật sự là tiểu thuyết của ông Tam. Ba vị này, rất ư là lão hóa. Lão hóa như thế thì thế hệ mới của tôi cần nên lão hóa.”

“Cái khổ là có những người trong thế hệ mới này cứ chuyên môn đem chuyện ông Hemingway ra hỏi ông Doãn Quốc Sỹ, làm như thể ông Doãn Quốc Sỹ phải biết ông Hemingway thì mới trở thành nhà văn! Trong khi đó, nếu ông Hemingway còn sống, ông Hemingway không biết ông Doãn Quốc Sỹ là ai, vì ông Doãn Quốc Sỹ viết bằng tiếng Việt, mà sách lại không được phổ biến cho 80 triệu dân. Ngọn đuốc của thế hệ mới nên soicho những ông Hemingway của Đại Tây Dương được biết về bác Doãn Quốc Sỹ nhà mình, ngồi câu cá bên cái Hồ Thùy Dương của bác ấy (câu cá thay vì viết văn vì tác giả Hồ Thùy Dương đã lão hóa, lão hóa sau khi tấm thân gầy gò đã chịu đựng ngục tù chỉ vì nhà giáo đã từng cầm bút). Có những người khác trong thế hệ mới lại rất dễ bỏ quên hẳn bác Doãn Quốc Sỹ nhà mình, vì con đường đi vào dòng chính không cần sự lót đá (grounding) của cái Hồ Thùy Dương ngày xưa.

“Đó, mới chính thức là ngọn đuốc của người đi sau để giải quyết vấn đề lão hóa. Ngọn đuốc này phải thắp nên bởi nhiên liệu đến từ độc gỉa?. Tôi đau đớn mà nhận ra rằng vấn đề ông nêu lên không biết giải quyết ra sao. Thật tình mà nói, có thể tôi méo mó nghề nghiệp luật sư thương mại, nhưng tôi cho rằng vấn đề này mang tính chất của một vấn đề kinh tế. Cần có một Bill Gates cho văn chương hải ngoại. Tôi nghĩ đến điều này hằng đêm.

“Về phần tôi (con người nghệ sĩ tách ngoài phạm vi nghề nghiệp), sau tác phẩm này, tôi chỉ mong là một số độc gỉa hiếm hoi trong dòng chính sẽ nhớ cái tên dòng sông Hương, thay vì ‘Perfume River’ của nhà quảng cáo trung tâm du lịch. Như thế là tôi đã tạm thành công.
“Chỉ có thế thôi. Và chỉ có trời biết, cho dù rằng tên tôi là Như-Nguyện. May All Your Wishes Come True. Rút cục lại, tôi tự bảo mình: cứ viết đi, đừng suy nghĩ đến thành công hay không thì tốt hơn. Con đường thiên lý đẹp vì hoa nở trên đường đi, chứ không phải vì nó dẫn đến đích: một ngôi nhà vàng nào đó để nhốt con chim hót!”

San Jose-Denver
Aug 15, 2005
NGUYỄN XUÂN HOÀNG

Wednesday, January 2, 2013

SWEATER OUT OF TRASH ONE SNOW DAY

CREATIVE NON-FICTION Tùy bút và các thể khác
LETTER TO 
A FELLOW VIETNAMESE:
DNN copyright 2012
Dear Nhu Thuong, 
Thank you for sharing your work "Se Lòng" with me. I look at your latest essay posted on your web blog as the dearest statement of friendship. And more.
You wrote on your experience of arrival in America and how a black laborer, a garbage man, has gathered warm clothes, separated them from the 'trash,' and out of that pile, chosen the best one to give you. I was very touched by the story - the dignity and humanity you expressed. 
The story has also reminded me of my own sadness as a Vietnamese American writer. Yet, like the music of Chopin, the sadness also laces my soul with the beauty that spells eternal hope. Let me explain.
Like in any ethnic group in America, it is unfortunate that there are Vietnamese and minorities who hold artificial values. To me, these individuals stand against humanity and not for humanity. These Vietnamese discriminate against those who are of a different skin color and culture. They build their self-worth and the worth of others on degrees and money, have no compassion for others, practice ethnocentrism, and hold a sense of superiority about their achievements and status as the newly rich of America. They don't think of 'giving back' to the less fortunate and, instead, deny their heritage, their roots, and their past - the very essence of diversity that has nurtured them and brought about their materialistic success. Many return to Vietnam to display their wealth, show off their status in America, or seek an identity that they cannot otherwise obtain in America.
Equally disheartening is the fact that in Vietnam, the "nouveau riche" of the "market economy" and the new ruling class exhibit the same attitude and behaviors. There, in the Vietnam you and I once called home, the gap between the rich and the poor continues and widens. Discontent is a way of life for the suffering poor while the rich flaunts their luxury. For many, the promise of the revolution -- a society of prosperity and happiness -- remains an illusion. Where is the history we once learned and the culture we once cherished? Now, the display of culture and history in Vietnam lies in slogans, tourism, and, very sadly, new structures with uniform motifs, replacing historical sites that have been demolished instead being preserved. Many of these structures are now called history. For many in the new generations, they are history. So, I have always been sad.
But your story speaks just the opposite of the sad reality I just described. I call your story, "Sweater Out of Trash, one Snow Day."
Perhaps the details might not be exactly the same as you experienced them years ago, but I think your feelings and the symbolism you perceived makes your story among the most lasting of the Vietnam experience. As I said earlier, the story has laced my soul with renewed eternal hope: I draw from this story the Vietnamese immigrant's appreciation of life and people across boundaries, plus the courage to face adversity with a sense of modesty and grace. This is the value that I try to uphold, in my writing and with my life; yet I can't help but being saddened by the fact that many Vietnamese on this and the other side of the Pacific Ocean cannot understand or welcome this universal value - the value of humanity and an appreciation of the human spirit.
In your story, the giver of an early Christmas gift and welcomer of the new poor Vietnamese immigrant was a black laborer, a garbageman. The sweater he gave her was pulled out next to the trash. The kind and friendly trash collector had gathered, from God-Knows-Where, all the wearables for the winter. Apparently he had selected the best in the pile to give the young woman.
In this woman the poor kind man had placed his good heart - the heart of humanity. The gift of surprise was given spontaneously in the first snow of a winter day, so unexpectedly and poignantly, yet full of a naturally felt compassion.
The young Vietnamese woman had to face the dilemma of how to thank him in a foreign language, when a simple 'thank you' seemed too difficult because the first words of English were already burdened with layers of emotions that laced her soul (the same lace that has revived my hope now).
Most of all, she had to decide whether to accept it as the first "charity item for free" in America. The gift was from a fellow human being -- one who stood for the working class in America and who looked so different from her. In all that pure sparkling white snow stood the black garbage man and his pile of trash and winter clothes, out of which sprang the sweater that enveloped the speechless and timid Vietnamese woman, petite, skinny, dazed and lost. To her, the sparkling white snow has become a blank page of a new diary, and in her hidden tear lies eternal hope for the days ahead.
What a beautiful painting of humanity.
All of the poignant facts of your story that make up such a painting carry great symbolic significance for a writer like me. For artists, it takes one to know one, a personal experience. But eternal hope can only be found in the kind of beauty that must be understood and received by all.
Because you call it non-fiction, I think of the story as your life, simply and abbreviatedly told. I think that underneath the white paint on the canvas, there are multiple colors lying in criss-crossing patterns. In your story, there is also the subtext of all the unspoken facts of your past - your family, their struggles, the city where you were raised , its sky and ground, its rains and winds, its bright sun and dark nights, and all the deaths and ruins that go with it. This subtext lies underneath that white snow, the warmth of that sweater, the extending hand and smiling face of a stranger.
These lives and places of the past and your intense feeling of that one day in America have woven themselves into the tapestry of Vietnamese immigrants in this country. It is this tapestry that tells the history that has put us here, the part of history that we have lost and must recreate.
So I consider this story a gesture of friendship and a great gift from you to me, as well as to other fellow Vietnamese. It reminds us of who and what we are and what we should be proud of - not the empty rhetoric of ethnocentrism, but purely the human spirit that spells our name, and what American means or should mean to us. I thank you not only for your friendship, but also for renewing my hope.
The eternal hope is that you are your story. By giving me that hope, you have in a way placed yourself in my hand. It is my honor if, as your reader, I am able to use the hand that holds the pen to speak for you in English (now it means the typing on a computer keyboard), in a way that makes the translation of your story unnecessary. Speaking means bringing a little bit of your heart to a non-Vietnamese speaking audience.
I hope, therefore, Nhu Thuong, that these words of mine will help bring your story beyond the circle of Vietnamese friendship to those readers who can't read your Vietnamese text, yet wanting to see and feel your heart, as I have.
Cordially, 
UYEN NICOLE DUONG (NHU-NGUYEN)


NOTE FROM THE AUTHOR: 
Nhu Thuong is the pen name of a Vietnamese poet, writer, and blogger. A graduate of Truo`ng Trung Ho.c Co^ng La^.p Ban Me^ Thuo^.t in the highlands of Vietnam, she pursued her college studies of arts in the humanity and graduated in the United States.  She writes exclusively in Vietnamese. Her blog in Vietnamese can be found at: www.nhuthuongbmt.blogspot.com
Nhu Thuong lives and works in Florida. Daughter of a former Vietnamese political prisoner, she came to America with her family in the early 1990s.


Monday, December 31, 2012

ROMANCE LÃNG MẠN

POETRY Thơ
PHỎNG DỊCH Bourget-Debussy: 
Romance
“L' âme e’vapore’e et souffrante...”

 “Tất cả những đau khổ của thân phận con người phải biến dạng thành hương thơm tỏa đến ngàn sau, khi thân thể đã bị gió bão cuốn đi và mảnh linh hồn biến thành sương khói. Đó là lãng mạn mà nhập cuộc.
  
“Trong thế giới của văn chương sáng tạo, phỏng dịch tức là tái tạo từ ý tưởng của tác giả đầu tiên; nếu cần thiết, trở thành một thông điệp mới cho hoàn cảnh, thời gian, và không gian mới. Vì thế, người dịch thơ trở thành người làm thơ: Lãng mạn tức là nhập cuộc.” 
 DNN c2012

 LÃNG MẠN

Mảnh linh hồn đã tan thành sương trắng
Mà vẫn còn đau khổ đến nghìn thu
Đây cánh huệ tươi, huyền diệu giữa sa mù
Tôi đã hái từ vườn anh trí tuệ

Nhưng khi gió thổi qua thành dâu bể
Thì mảnh hồn của huệ chẳng nằm yên

Mà lung lay hương tỏa đến triền miên
Đuổi bởi gió về khu vườn vô thức

Chút hương ấy giờ đây còn sáng rực
Dịu ngọt sao, thơm nức cả khung trời
Như vòng tay ôm ngát một giây đời
Từ sương khói vượt tâm linh huyễn hoặc

Trong yên lặng của khu vườn tĩnh mặc
Anh mở tay ôm, hy vọng và tình yêu

Tuyệt đỉnh linh hồn, trí tuệ nương theo
Dây hạnh phúc bình yên là nhập cuộc!
DNN copyright Sept. 30, 2012

Romance
      Paul Bourget; Claude Debussy phổ nhạc
L'âme évaporée et souffrante,
L'âme douce, l'âme odorante
Des lys divins que j'ai cueillis
Dans le jardin de ta pensée,
Où donc les vents l'ont-ils chassée,
Cette âme adorable des lys?

N'est-il plus un parfum qui reste
De la suavité céleste
Des jours où tu m'enveloppais
D'une vapeur surnaturelle,
Faite d'espoir, d'amour fidèle,
De béatitude et de paix?...

English translation (bản dịch tiếng Anh):
ROMANCE
                               Korin Kormick 
The vanishing and suffering soul,
The sweet soul, the fragrant soul
Of divine lilies that I have picked
In the garden of your thoughts,
Where, then, have the winds chased it,
This charming soul of the lilies?
Is there no longer a perfume that remains
Of the celestial sweetness
Of the days when you enveloped me
In a supernatural haze,
Made of hope, of faithful love,
Of bliss and of peace?
Cello and Dancer DNN C1998 
watercolor on paper digitally inverted
  
Ý NGHĨA CỦA BOURGET-DEBUSSY  
“L' ÂME E’VAPORE’E”
(qua con mắt của  cô bé gốc Việt khoảng 15 tuổi - làm thơ để học tiếng Việt)

HƠI, SƯƠNG, HAY KHÓI?

Linh Hồn
Là HƠI
Theo Ông

Là SƯƠNG
Theo Cô

Là KHÓI
Theo Bác

Hơi
Là Hơi Thở
Con Người
Theo Ông

Sương
Là Sương Ban Mai
Cái Đẹp
Theo Cô

Khói
Là Khói
Đốt cay mắt
Con người đẹp bị cháy
Theo Bác

Tôi sẽ theo Ông
Theo Cô
Không theo Bác
(Nhất là khi Bác không cho tôi Food Tickets)

S. Thơm
September 29, 2012

L' ÂME E'VAPORE'E NHƯ MẢNH LINH HỒN TRÓT TỎA SƯƠNG

POETRY Thơ
Dương Như Nguyện c2012

                “L'âme e’vaporée et souffrante”   Bourget & Debussy
         "Ở đây sương khói mờ nhân ảnh”   Hàn Mặc Tử
                   “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”  Huy Cận

(4 câu đầu họa thơ Toại Khanh, tập san Văn Đoàn Đồng Tâm của Doãn Quốc Sỹ)

Bao năm không hết sầu thiên cổ
Vì đã mù khơi một cội nguồn
Muốn làm mây trắng không nơi ở
Như mảnh linh hồn trót tỏa sương

Bao năm chưa hết sầu xa xứ
Thì đã mồi da, tóc bạc rồi
Muốn làm chim lạc bay về tổ
Đậu chốn yên bình, chốn nghĩ ngơi

Bao năm chưa cạn lời tâm nguyện
Em sẽ quay về ở với anh?
Hay vẫn triền miên như khói trắng
Trải khắp giang hà, khắp chúng sinh

Bao năm trong cõi đời lưu lạc
Mực đã khô thành chữ sắc không
Em đem cây cọ thay ngòi bút
Hồn vẫn mong chờ kiếm Đặng Dung
DNN
Sept 29 2012

"HILLS OF MEMORY"
ACRYLIC ON PAPER
copyright DNN 2012

EXCERPT FROM "MIMI AND HER MIRROR" - TRÍCH TỪ TIỂU THUYẾT "MIMI VÀ TẤM GƯƠNG SOI "

EXCERPTS FROM FICTION Trích từ truyện sáng tạo



MIMI AND HER MIRROR
MIMI VÀ TẤM GƯƠNG SOI

Chapter Two:  Her Nine Words
Vietnamese translation:
CHÍN CH CA NÀNG

Dương Như Nguyn
Bản dịch của G.S. Dương Đức Nhự

copyright 2000, 2005, 2013
Trích từ truyện ngắn đầu trong tuyển tập truyện ngắn cùng tên, Chín Chữ của Nàng (Văn Mới: 2005). Truyện cũng là một chương trong tiểu thuyết tiếng Anh Mimi and Her Mirror của Dương Như Nguyện (AmazonEncore, 06.2011) như truyện tiếp nối (sequel) của Daughters of the River Huong (Con Gái của Sông Hương.  
Bản dịch này dùng cách đánh vần mới, đề nghị của dịch giả G.S. Dương Đức Nhự. 

Mùa xuân 2012, tiểu thuyết Mimi and Her Mirror được giải nhất cuộc thi International Book Awards tổ chức ở Los Angeles.





Mùa thu 1976, Hi Sinh Viên Vit Nam ti Southern Illinois State University (SISU) tc Đi Hc Nam Illinois có chng hai chc hi viên. Đa s hc ngành kĩ sư hoc kế toán, và có hc bng t hi mi sang Mĩ trước 75. Sau khi Sài Gòn sp đ, phi cn c mt năm tri đ h điu chnh tình trng di trú, thay đi chương trình tài tr sinh viên, n đnh tinh thn và tiếp tc đi sng. Lúc đu không ai đ ý, nhưng dn dn trong Hi ai cũng biết chuyn Chàng Khùng. Như mt đo sĩ kì d, hn thiết lp bn doanh ti hành lang tòa nhà Krost Hall, nm gia Trung Tâm Sinh Viên và Tòa Nhà Hành Chánh Woody. Hn ngi trên mt tm chăn, nhiu khi hn đng, khua chân múa tay và lm bm mt mình. Quanh hn là nhng truyn đơn và qung cáo v t do, dân ch trong khi Thế Gii Th Ba.

A VIEW TOWARD LITERARY TRANSLATION AND INTERPRETATION -- QUAN NIỆM VỀ DỊCH THUẬT, DIỄN GIẢI, DIỄN TẢ VÀ DIỄN ĐẠT VĂN CHƯƠNG

THEMATIC DISCUSSION Bàn luận với chủ đề: 


A NEW APPROACH TOWARD LITERARY TRANSLATION, INTERPRETATION, DESCRIPTION AND  ANALYSIS 

QUAN NIỆM VỀ DỊCH THUẬT, DIỄN GIẢI, DIỄN TẢ 
VÀ DIỄN ĐẠT VĂN CHƯƠNG

Note from the editor:  In the following dialogue between DNN and reader vietbang at vietbang.com (conducted in Vietnamese), DNN presents and explains, among other things, her view regarding a new approach toward the translation of literary text: In the epoque of post-modernism, translators should be given maximum flexibility to express their subjective feelings about the text examined, and to exercise their creativity, so long as the ethics of translation is observed -- the translator will not distort the text to alter meaning. Within that boundary, the translator should not be bound to the same syntax or structure of language as the original author. This view, according to DNN, will extend the theory of interpretive creativity expounded by Roland Barthes, et al, to translators.  The translated novel, therefore, can become a "leap forward" from the original novel,  and can create a "local" feeling for the novel, which may help transcend any cultural obstacles in readers' appreciation.  In this view, the translator will also become a literary creative artist.  

Although historically, this has been done ad hoc in the art of translation as translators' choce, DNN wants to formalize this "norm" into a theory of literary interpretation made applicable to translators. She uses the Vietnamese translation of her novella Postcards from Nam as an example of how the ethics of translation and the creativity of the translator can be reconciled, toward the goal of enriching the creative process and allowing a translator to wear more of a creative hat.


Ý nghĩa của tựa truyện “Postcards from Nam” và quan niệm về dịch thuật, diễn giải, diễn tả, và diễn đạt văn chương

I. Thử bàn về vấn đề chữ nghĩa trong việc dịch thuật tựa đề

Vietbang (“VB”): Xin cô giải thích tựa truyện “Postcards from Nam” / “Bưu Thiếp Của Nam”? Lưu ý cô chữ “của” như “Con Gái Của Sông Hương.” Cô đặt nặng vấn dề sở hữu chủ về những bưu thiếp này, số nhiều phải không ? Trong cuốn Sông Hương cô cũng nói về bưu thiếp. Đó có phải là một biểu tượng /motif không, hay là một sự thể của cốt truyện?  
Xin nói trước, bài nói chuyện này có tính cách cá nhân. Đây không phải là một cuộc phỏng vấn của báo chí. Không hiểu vì sao một cuộc nói chuyện cá nhân của tôi bị đi thẳng vào google.com. Vì đã bị lên google.com, tôi xin phép ông được đem cuộc phỏng vấn cá nhân này vào cuốn sách mới.
Biểu tượng (motif) “postcards” đã được dùng bởi những soạn giả và nhà văn Mỹ. Trong chu trình viết của tôi, “postcards” có những ý nghĩa khác hẳn: hình ảnh những mảnh đời, tin từ xa, sự hiểu biết cô đọng, nhu cầu dược hiểu, thông điệp, tiếng nói v.v… Tất cả có chung các đặc tính sau: rất ngắn, rất trừu tượng, không được giải thích rõ ràng hay chân chất, mà chỉ là những ghi nhận hình như vội vã và thu hẹp trong khuôn khổ giấy, nhưng vô cùng rộng rãi về ý nghĩa.
 “Postcards” có thể được mong đợi, có thể bất ngờ, có thể mang niềm vui, mà cũng có thể mang nỗi buồn hoặc niềm ước ao lưu luyến.
Độc giả của “Daughters of the River Huong” sẽ thấy postcards trong đó, mang những bí mật của quá khứ đầy nghi vấn, Nhân vật chínhphải bỏ qua những nghi vấn về quá khứ để tìm thấy sự an bình trong tâm hồn.
Postcards from Nam có thể là postcards gửi từ phương nam, từ nước Nam, từ một nơi chốn nào đó về phía Nam, từ cộng đồng hay tổ quốc mang tên Nam.  Mà cũng có thể từ một người tên Nam. Ý nghĩa “tác giả” (authorship) của “bưu thiếp” là thế nào? Người chụp hình, người vẽ, hay người gửi? Ai là sở hữu chủ của bưu thiếp? Người gửi? Hay người nhận? Ở thời điểm nào?
Cho nên cụm từ “postcards from Nam” rất mơ hồ mà xúc tích.
“Bưu Thiệp Của Nam” không hẳn là câu dịch chính xác nhất của tựa đề tiếng Anh. “Cánh Thiệp từ Nam” chính xác và thơ mộng hơn. “Bưu Thiếp Của Nam” là Nam’s Postcards.  Sau khi Mimi nhận được postcards rồi, có thể nói là “Mimi’s Postcards.”
Số nhiều hay số ít trong cụm từ “Cánh Thiệp từ Nam” hay “Bưu Thiếp Của Nam” không quan trọng cho ý nghĩa (semantics).  Trái lại, trong “NHỮNG đồi hoa sim,” chữ NHỮNG rất quan trọng. Cảnh vật muốn tả là nhiều ngọn đồi bát ngát hoa sim tím cả chân trời. Ngược lại, một cánh thiệp hay nhiều cánh thiệp đều mang một ý nghĩa biểu tượng (symbolic meaning) như nhau.



EXCERPT FROM "POSTCARDS FROM NAM" Trích từ truyện (novella) "BƯU THIẾP CỦA NAM"

EXCERPT FROM FICTION: Trích từ truyện sáng tạo

POSTCARDS FROM NAM
Chapter 8 -- The refuge of art

Page 87-89 (ISBN-13 978161180182 AmazonEncore 2011)


BƯU THIẾP CỦA NAM
Dịch giả: GS Nguyễn Thị Thanh Tâm 
(Đoàn Khoách Thanh Tâm)
Trang 91 (Văn Mới 2010)